MỞ ĐẦU Rối loạn lƣỡng cực (RLLC) là một bệnh lý tâm thần mạn tính, đặc trƣng bởi các giai đoạn hƣng cảm, hƣng cảm nhẹ và trầm cảm. Khi không đƣợc điều trị thích hợp bệnh sẽ để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, thậm chí là tử vong [76]. Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu trên thế giới gây khiếm khuyết chức năng, đặc biệt là ngƣời bệnh thƣờng nằm trong độ tuổi lao động từ 15 đến 44 tuổi [68]. Tuy nhiên, chẩn đoán chính xác rối loạn này vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Bởi vì, ngƣời bệnh thƣờng biểu hiện các giai đoạn trầm cảm chủ yếu đầu tiên hoặc các giai đoạn trầm cảm chủ yếu xảy ra thƣờng xuyên hơn nhƣng ngƣời bệnh lại không nhận biết đƣợc các giai đoạn hƣng cảm, hƣng cảm nhẹ trƣớc đó [50],[71]. Do đó, nhiều trƣờng hợp bị chẩn đoán nhầm lẫn, đặc biệt là với rối loạn trầm cảm chủ yếu, dẫn đến các điều trị chƣa phù hợp [32],[40]. Các nghiên cứu cho thấy, chẩn đoán RLLC thƣờng bị chậm trễ trong nhiều năm, trung bình dao động trong khoảng từ 8 – 14 năm trƣớc khi đƣợc chẩn đoán chính xác [21],[40]. Thời gian mắc rối loạn lƣỡng cực không đƣợc điều trị kéo dài khiến việc đáp ứng thuốc kém hơn, bệnh nhân trải qua nhiều đợt bệnh, chất lƣợng cuộc sống suy giảm nhiều.
Để cải thiện việc phát hiện sớm RLLC, nhiều công trình nghiên cứu đƣợc thực hiện để tìm ra công cụ tầm soát và chẩn đoán RLLC chính xác nhất [5],[17],[65]. Trong số đó, nổi bật là bộ câu hỏi rối loạn khí sắc (Mood Disorder Questionaire - MDQ) của Hirschfeld và cộng sự, đƣợc xây dựng dựa trên các tiêu chí chẩn đoán hƣng cảm theo DSM – IV và công bố vào năm 2000 [41]. Từ đó đến nay MDQ đã trở nên phổ biến, đƣợc nhiều chuyên gia tâm thần sử dụng trong thực hành, nghiên cứu và đƣợc chuẩn hóa trên nhiều đối tƣợng khác nhau, có giá trị khoa học và thực tiễn. Ngoài ra, trong các hƣớng dẫn chẩn đoán và điều trị RLLC mới nhất, MDQ đƣợc xem là công cụ hữu ích giúp tầm soát phát hiện sớm các giai đoạn hƣng cảm (nhẹ) [102].
Ƣu điểm của MDQ là ngắn gọn khi bao gồm 15 câu hỏi lựa chọn có/không, đƣợc thực hiện trong một thời gian ngắn. Thang đo đã đƣợc chuyển ngữ và chuẩn hóa theo nhiều ngôn ngữ khác nhau [78]. Tuy nhiên, cho đến thời. 2 điểm hiện tại, các nghiên cứu về rối loạn lƣỡng cực tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, đặc biệt chƣa có một công trình nghiên cứu nào đƣợc thực hiện để Việt hóa và đo lƣờng các thuộc tính tâm trắc của MDQ tiếng Việt.
Việc thiếu hụt công cụ chuẩn hóa có thể là nguyên nhân dẫn đến hoạt động tầm soát chƣa thực sự hiệu quả, phổ biến. Ngoài ra, thiếu hụt công cụ nghiên cứu cũng làm hạn chế các nghiên cứu và bằng chứng khoa học có giá trị để phục vụ cho can thiệp. Vì vậy, nghiên cứu này đƣợc thực hiện nhằm đánh giá thang đo MDQ tại Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc sử dụng thang đo MDQ để tầm soát rối loạn lƣỡng cực và các vấn đề liên quan đến lƣỡng cực ở đối tƣợng rối loạn lƣỡng cực I, II và rối loạn trầm cảm chủ yếu, sau đây đƣợc gọi chung là rối loạn khí sắc.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Thang đo MDQ khi sử dụng trên đối tƣợng rối loạn khí sắc có độ tin cậy và giá trị là bao nhiêu? MỤC TIÊU TỔNG QUÁT Đánh giá tính tin cậy và giá trị của bộ câu hỏi rối loạn khí sắc phiên bản tiếng Việt. MỤC TIÊU CỤ THỂ 1. Xác định tính tin cậy của bộ câu hỏi rối loạn khí sắc trên bệnh nhân ngoại trú có rối loạn khí sắc 2. Xác định tính giá trị của bộ câu hỏi rối loạn khí sắc trên bệnh nhân ngoại trú có rối loạn khí sắc .1 Rối loạn lƣỡng cực Rối loạn lƣỡng cực, hay còn gọi là rối loạn cảm xúc lƣỡng cực (theo ICD – 10) là một bệnh lý tâm thần thƣờng gặp, tác động đến hơn 1% dân số thế giới [93].
Rối loạn này là nguyên nhân hàng đầu gây ra sự khiếm khuyết nhận thức và chức năng ở ngƣời trẻ, đồng thời gia tăng nguy cơ tử vong do tự sát và các bệnh lý khác. Chẩn đoán sớm và chính xác RLLC là một thách thức trong thực hành lâm sàng bởi vì khởi phát của rối loạn thƣờng là các triệu chứng không đặc hiệu, sự dễ thay đổi về khí sắc hoặc biểu hiện đầu tiên là của một giai đoạn trầm cảm chủ yếu nên khiến ngƣời bệnh dễ bị chẩn đoán nhầm lẫn với một trầm cảm đơn cực. Trong khi đó, ngƣời bệnh và gia đình của họ không phải lúc nào cũng có thể hiểu và nhận ra các bất thƣờng, đặc biệt trong giai đoạn hƣng cảm nhẹ. Các xét nghiệm hiện tại không thể phát hiện ra trầm cảm lƣỡng cực, vì thế đánh giá lâm sàng là quan trọng bậc nhất trong chẩn đoán và theo dõi RLLC nói riêng và các bệnh lý tâm thần nói chung.1 Hệ thống phân loại của rối loạn lƣỡng cực và các rối loạn liên quan Việc phân loại tâm thần hiện nay chỉ dựa vào bệnh cảnh lâm sàng thay vì từ những nghiên cứu khách quan trong phòng thí nghiệm độc lập với đặc điểm lâm sàng, giống nhƣ những chuyên khoa y học khác.
Do đó, phân loại trong tâm thần học đã, đang và sẽ vẫn là một vấn đề gây tranh cãi. Mặc dù vậy, các tiêu chuẩn cũng đã đƣợc đề ra để gợi ý, hƣớng dẫn việc chẩn đoán. Hai hệ thống chẩn đoán đƣợc biết đến và sử dụng nhiều nhất hiện nay là ICD – 10 (International Classification of Diseases, tenth edition) do Tổ chức Y tế Thế giới ban hành và DSM – 5 (The Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition) của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kì công bố. Nhìn chung, DSM chủ yếu dựa vào các bằng chứng khoa học để phân loại các rối loạn tâm thần, trong khi ICD thƣờng dựa vào sự đồng thuận giữa các chuyên.
4 gia từ các nƣớc khác nhau và các tiếp cận khác nhau để phân chia nhóm bệnh. Trong ICD – 10, RLLC đƣợc bao gồm trong chƣơng ―rối loạn khí sắc (cảm xúc)‖ (F30 – F39). Tuy nhiên, lần đầu tiên, trong DSM – 5, RLLC đƣợc tách ra khỏi trầm cảm đơn cực và tạo thành hai chƣơng riêng biệt về khí sắc, dù những phiên bản trƣớc của DSM, cả hai vẫn đƣợc gộp chung thành ―rối loạn khí sắc‖. Hiện tại, theo phân loại của DSM – 5, chƣơng ―lƣỡng cực‖ gồm có RLLC và khí sắc chu kì, trong khi chƣơng ―trầm cảm‖ bao gồm rối loạn loạn điều hòa khí sắc bùng nổ, rối loạn trầm cảm chủ yếu, rối loạn trầm cảm dai dẳng (loạn khí sắc) và rối loạn loạn khí sắc tiền kinh nguyệt.
Có sự khác biệt trong phân loại giữa hai hệ thống chẩn đoán này, khiến cho nghiên cứu tâm thần ở một số quốc gia trong đó có Việt Nam, có mã hệ thống chẩn đoán y tế theo ICD – 10, nhƣng chẩn đoán bệnh theo các tiêu chí của DSM – 5, gặp bất tiện trong việc thống nhất mã bệnh khi làm nghiên cứu. Ví dụ nổi bật nhất là trong DSM – 5 RLLC đƣợc chia thành hai nhóm là RLLC I và RLLC II, với ICD – 10 chỉ có rối loạn cảm xúc lƣỡng cực. Tuy nhiên, vấn đề có thể đƣợc giải quyết khi ICD – 11 đƣợc đƣa vào áp dụng, bởi ICD - 11 mang đến một hệ thống phân loại có nhiều đặc điểm tƣơng đồng với DSM – 5.2 Dịch tễ học của rối loạn lƣỡng cực Vào năm 2011, Ban điều tra sức khỏe Tâm thần thế giới đã thực hiện một nghiên cứu điểu tra cắt ngang ở 11 quốc gia thuộc Á – Âu – Mỹ [62]. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc trong suốt đời của các rối loạn phổ lƣỡng cực là 2,4%, trong đó RLLC I là 0,6%, RLLC II là 0,4%, lƣỡng cực dƣới ngƣỡng chẩn đoán là 1,4%.
Cũng trong nghiên cứu này, tỉ lệ lƣu hành trong 12 tháng của RLLC là 1,5%, 0,4% đối với RLLC I và 0,3% với RLLC II. So với RLTCCY, RLLC xuất hiện ở cả hai giới là gần nhƣ bằng nhau [62]. Mặc dù, có những tài liệu cho thấy ở nam giới có xu hƣớng bắt gặp giai đoạn hƣng cảm, trong khi nữ giới giai đoạn trầm cảm chủ yếu dƣờng nhƣ xuất hiện nhiều hơn [62],[71]. Nếu giai đoạn hƣng cảm xảy ra ở nữ giới, nó thƣờng mang đặc điểm của cả hƣng cảm và trầm cảm, tạo thành thể hƣng cảm hỗn hợp.
Tuy nhiên, nhìn chung, RLLC phân bố đều ở hai nhóm giới tính. 5 Có rất nhiều tài liệu nghiên cứu trƣớc đây cho thấy RLLC thƣờng bị bỏ sót [101]. Và kể cả khi đã biết mình có RLLC, ngƣời bệnh với nhiều lí do khác nhau tiếp tục trì hoãn điều trị, ƣớc đoán thời gian từ lúc đƣợc chẩn đoán lƣỡng cực đến lúc tìm kiếm điều trị còn kéo dài tới hơn 10 năm. Ngƣợc lại, dù ít, nhƣng có một số nghiên cứu phát hiện ra RLLC đôi khi cũng bị lạm dụng trong chẩn đoán.
Rhode Island đã thực hiện nghiên cứu lớn nhất về thiếu sót và lạm dụng chẩn đoán RLLC [105]. Có 700 bệnh nhân tâm thần ngoại trú đƣợc bác sĩ tâm thần đánh giá thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc SCID – IV (Structured Clinical Interview for DSM – IV), và tự ngƣời bệnh trả lời các câu hỏi liên quan đến chẩn đoán RLLC hoặc rối loạn hƣng – trầm cảm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có hơn 20% ngƣời bệnh đã đƣợc chẩn đoán RLLC trƣớc đó (n = 145, 20,7%), và cao hơn rõ ràng với kết quả chẩn đoán RLLC theo SCID – IV (12,9%). Trong 145 ngƣời này, có hơn một nửa ngƣời bệnh thực sự không có RLLC theo nhƣ chẩn đoán của SCID (n = 82, 56,6%).
Nhƣ vậy, có một số ngƣời bị bỏ sót chẩn đoán, nhƣng số ngƣời bị chẩn đoán quá mức cao gấp ba lần so với ngƣời bị thiếu sót chẩn đoán (87 so với 27 ngƣời). Sau đó, khi theo dõi các bệnh nhân, các tác giả đã tìm thấy ở những ngƣời bệnh bị chẩn đoán quá mức này có mối liên hệ độc lập với các rối loạn nhân cách ranh giới (p < 0,001), rối loạn căng thẳng sau sang chấn (p < 0,05) và rối loạn kiểm soát xung động (p < 0,05) [106]. Do đó, chẩn đoán quá mức và thiếu sót RLLC đều có thể xảy ra.