MỞ ĐẦU Rối loạn lƣỡng cực là một rối loạn khí sắc mạn tính, tần suất mắc phải trong suốt cuộc đời là 1,3- 5%, đặc trƣng bởi các giai đoạn hƣng cảm, hƣng cảm nhẹ xen kẽ các giai đoạn trầm cảm.1,2 Rối loạn lƣỡng cực có thể dẫn đến suy giảm chức năng hằng ngày, chức năng nghề nghiệp, chức năng nhận thức và tử vong do nguyên nhân tự nhiên hoặc tự sát.3 Theo Tổ chức y tế thế giới, rối loạn lƣỡng cực đƣợc xếp thứ 6 trong nhóm nguyên nhân gây khiếm khuyết chức năng ở nhóm tuổi từ 10-24 tuổi.4 Chất lƣợng cuộc sống cũng suy giảm đáng kể trên những bệnh nhân rối loạn lƣỡng cực, kể cả những bệnh nhân ổn định về mặt lâm sàng, đặc biệt trên những bệnh nhân có tiền sử cố gắng tự sát.1,3,5 Trên thế giới, khoảng hơn 700.000 ngƣời tử vong do tự sát trong năm 2019, tƣơng đƣơng cứ 11 phút sẽ có một ngƣời tử vong.6,7 Theo Tổ chức y tế thế giới năm 2019, tự sát là một trong bốn nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới trong độ tuổi 15-29 tuổi.8 Đặc biệt, các bệnh nhân có rối loạn khí sắc có nguy cơ tử vong do tự sát cao hơn so với dân số chung.2 Khoảng hơn 90% trƣờng hợp tự sát xảy ra trên các bệnh nhân đƣợc chẩn đoán mắc rối loạn tâm thần.9 Tỉ lệ tự sát trong rối loạn lƣỡng cực khác nhau trong các nghiên cứu tùy theo từng phân nhóm lƣỡng cực, giới tính, tuổi tác hoặc mức độ nghiêm trọng của bệnh. Nhìn chung, ƣớc tính tỉ lệ cao gấp 10-30 lần so với dân số chung.10-12 Khoảng một phần ba đến một nửa số bệnh nhân rối loạn lƣỡng cực cố gắng thực hiện hành vi tự sát ít nhất một lần trong đời.10 Tỉ lệ tự sát thành công khoảng 15- 20%, gấp 20-30 lần so với dân số chung.10,13,14 Bên cạnh các yếu tố nguy cơ tự sát trên dân số chung nhƣ sống một mình, li dị, không có con thì một số yếu tố khác bao gồm giới tính, tiền sử cố gắng tự sát, ý tƣởng tự sát, tiền căn gia đình có ngƣời tự sát, tuổi khởi phát, tiền căn sang chấn, lạm dụng chất, rối loạn nhân cách cũng đƣợc chỉ ra có liên quan đến nguy cơ tự sát trên rối loạn lƣỡng cực. 2 Tại Việt Nam, các nghiên cứu về tự sát trên bệnh nhân rối loạn lƣỡng cực còn thiếu. Công bố mới nhất của Trần Quyết Thắng và cộng sự trên bệnh nhân rối loạn lƣỡng cực tại bệnh viện Tâm thần Hà Nội năm 2021 cho thấy tỉ lệ tự sát chiếm 38,3%, trong đó chiếm 64.1% ở nam giới và 35,9% ở nữ giới.15 Việc xác định tỉ lệ và các yếu tố nguy cơ liên quan tự sát trên bệnh nhân rối loạn lƣỡng cực góp phần lên kế hoạch cho việc điều trị, phòng ngừa nhằm giảm thiểu rủi ro và tỉ lệ tự sát.2,11 Đồng thời, bổ sung vào số liệu nghiên cứu cho khoa học tại Việt Nam và thế giới.
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Tỉ lệ tự sát và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân rối loạn lưỡng cực” với các mục tiêu sau: 1. Xác định tỉ lệ ý tƣởng và hành vi tự sát trên bệnh nhân rối loạn lƣỡng cực. Xác định các yếu tố liên quan đến ý tƣởng và hành vi tự sát trên bệnh nhân rối loạn lƣỡng cực. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về rối loạn lƣỡng cực Rối loạn lƣỡng cực (RLLC), hay còn gọi là rối loạn cảm xúc lƣỡng cực (theo Phân loại thống kê quốc tế về các bệnh tật và vấn đề sức khoẻ liên quan, phiên bản thứ 10 (ICD 10)) là một bệnh lý tâm thần thƣờng gặp, tác động đến khoảng 1% dân số thế giới.1,3,16 RLLC đặc trƣng bởi các giai đoạn hƣng cảm/ hƣng cảm nhẹ xen lẫn giai đoạn trầm cảm.1 Bệnh thƣờng trở nên mạn tính và tái phát nhiều lần, gây ra sự khiếm khuyết chức năng nghề nghiệp và nhận thức kể cả trong giai đoạn hồi phục, đồng thời gia tăng nguy cơ tử vong do tự sát và các bệnh lý khác.1 Dịch tễ học của rối loạn lƣỡng cực Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2019, RLLC tác động đến khoảng 0,4%- 1,2% dân số thế giới.17 Vào năm 2011, an điều tra sức khỏe Tâm thần thế giới đã thực hiện một nghiên cứu điều tra cắt ngang ở 11 quốc gia thuộc Á – Âu – Mỹ, kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ lƣu hành trong 12 tháng của RLLC là 0,4% đối với RLLC I, 0,3% với RLLC II, 0,8% đối với lƣỡng cực dƣới ngƣỡng và 1,5% đối với các phổ lƣỡng cực khác.1 Tại Việt Nam, tỉ lệ mắc RLLC năm 2019 theo WHO là 0,3-1,2%.17 Độ tuổi thƣờng gặp của RLLC phổ biến nhất trong nhóm tuổi từ 18-29 tuổi, tiếp theo là nhóm tuổi từ 30-44 tuổi, thấp nhất là nhóm trên 60 tuổi.5 RLLC thƣờng khởi phát sớm, trong độ tuổi thanh thiếu niên, trung bình khoảng 15-25 tuổi, trong đó RLLC I có thể xuất hiện ở cả thời thơ ấu từ 5-6 tuổi cho tới 50 tuổi hoặc một số trƣờng hợp lớn tuổi hơn.5,16 Tuy nhiên, ƣớc tính tuổi khởi phát rất khó xác định chính xác trong RLLC do thời gian điều trị bệnh bị trì hoãn.9,18 Về giới tính, theo số liệu ƣớc tính từ WHO năm 2019, RLLC xuất hiện ở cả hai giới tính là gần nhƣ bằng nhau.19 Tần suất mắc RLLC I theo một điều tra ở Mỹ cho thấy không có sự khác biệt giữa nam và nữ với tỉ lệ 1,1:1.1 Tuy nhiên, một số.
4 nghiên cứu cho thấy RLLC II phổ biến ở nữ hơn nam.1,5 Nhìn chung, RLLC phân bố đều ở hai nhóm giới tính. Theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần, ấn bản thứ năm, phiên bản có sửa đổi (DSM 5-TR), RLLC phổ biến hơn ở các nƣớc thu nhập cao so với các nƣớc thu nhập thấp (1,4% so với 0,7%).1,5 Một số nghiên cứu cho thấy RLLC thƣờng gặp nhiều hơn ở thành thị hoặc các khu vực có mức đô thị hoá cao hơn.1,5,20 Về trình độ học vấn, các nghiên cứu cho thấy chƣa có sự liên quan rõ ràng giữa trình độ học vấn và bệnh nhân RLLC. RLLC I có thể có tỉ lệ cao hơn ở nhóm ngƣời không tốt nghiệp đại học so với nhóm hoàn thành chƣơng trình đại học.5 Một nghiên cứu cho thấy BN RLLC hoàn thành số năm học ít hơn so với nhóm chứng, trong đó số ngƣời vào đại học chiếm 60% ở cả hai nhóm, tuy nhiên chỉ có 16% bệnh nhân trong nhóm RLLC hoàn thành chƣơng trình đại học, trong đó 47% ngƣời trong nhóm chứng hoàn thành chƣơng trình đại học. Nhìn chung, RLLC có thể ảnh hƣởng đến chức năng học tập và có thể làm giảm chất lƣợng cuộc sống đáng kể của ngƣời bệnh.16 Về nghề nghiệp, BN RLLC có thể có tình trạng kinh tế thấp hơn so với những ngƣời có cùng trình độ học vấn do sự hồi phục chậm hơn về chức năng nghề nghiệp.1 Các nghiên cứu cho thấy thất nghiệp chiếm tỉ lệ cao, khoảng 32,2%-52,9% trên BN RLLC.15,21,22 Đặc biệt, tình trạng bệnh không ổn định càng dài, nguy cơ thất nghiệp càng tăng lên, cao gấp 4-10 lần so với dân số chung.23 Về tình trạng hôn nhân, những ngƣời li thân, li dị hoặc góa có tỉ lệ mắc RLLC cao hơn những ngƣời đã kết hôn hoặc chƣa từng kết hôn.5 Theo chiều ngƣợc lại, nghiên cứu của Grover và cộng sự (2017) ghi nhận những ngƣời mắc RLLC có tỉ lệ li dị cao hơn so với nhóm chứng.24 Nghiên cứu tại Mỹ,25 Iran21 trên BN RLLC cho tỉ lệ N trong nhóm độc thân và li thân/li dị/goá cao hơn so với nhóm đã kết hôn.
Nhìn chung, RLLC ảnh hƣởng tiêu cực đến nhiều mối quan hệ đặc biệt trong các quan hệ cặp đôi.2 Cơ chế bệnh sinh của rối loạn lƣỡng cực Cho đến thời điểm hiện tại, nguyên nhân chính xác của RLLC nói riêng và các rối loạn tâm thần nói chung chƣa đƣợc hiểu biết rõ. Có nhiều giả thuyết khác nhau, nhƣng đƣợc chấp nhận nhiều nhất là sự tƣơng tác giữa gen và môi trƣờng.3,5,27 Các bằng chứng về gen và dịch tễ học từ các nghiên cứu trên các trẻ sinh đôi cho thấy RLLC có yếu tố di truyền cao, ƣớc tính lên đến 85%.16,27 Nhiều vị trí trên nhiều gen cùng tham gia tác động gây ra biểu hiện bệnh, các vị trí này có thể trùng lấp với gen liên quan đến các rối loạn tâm thần khác nhƣ tâm thần phân liệt.5 Thân nhân thế hệ thứ nhất của các bệnh nhân này có tỉ lệ mắc rối loạn lƣỡng cực trong đời cao hơn đáng kể so với dân số chung.5 Các cơ chế bệnh sinh khác đƣợc cho là căn nguyên của RLLC bao gồm bất thƣờng trục hạ đồi-tuyến yên-tuyến thƣợng thận và các bất thƣờng tuyến giáp.5 Từ các nghiên cứu về mô bệnh học và hình ảnh thần kinh phát hiện sự thay đổi vi cấu trúc và hóa học thần kinh trong mô não của BN RLLC. Hoạt động của trục hạ đồi- tuyến yên-tuyến thƣợng thận tăng trong giai đoạn trầm cảm. Các kháng thể kháng giáp, rối loạn chức năng tuyến giáp đƣợc phát hiện ở các BN RLLC.
Sự sụt giảm về mật độ tế bào thần kinh và mô đệm, hoạt động mô đệm, cấu trúc tế bào thần kinh đƣợc ghi nhận ở vỏ não thùy trán, vùng hồi hải mã. Các khiếm khuyết này gây ra sự suy giảm nhận thức của ngƣời bệnh, đƣợc quan sát thấy trong các giai đoạn bệnh và có thể kéo dài trong giai đoạn khí sắc ổn định.5 Sự cân bằng thụ thể hoặc chất dẫn truyền thần kinh nhƣ serotonin, norepinephrine, dopamine cũng liên quan đến bệnh sinh của RLLC, nhƣng vẫn chƣa rõ mối liên hệ của chúng nhƣ thế nào lên sự biểu hiện của bệnh. Ngoài ra, các dấu hiệu viêm, đặc biệt là chất trung gian interleukin-6 cũng tăng cao ở BN RLLC. Mối quan hệ và vai trò của các chất gây viêm vẫn đang đƣợc tìm hiểu.5 Theo y văn, yếu tố môi trƣờng và tâm lý xã hội có tác động quan trọng đến sự khởi phát, diễn tiến và biểu hiện của rối loạn lƣỡng cực.5,16 Các sự kiện căng thẳng hay tiêu cực, thiếu ngủ hay rối loạn giờ giấc sinh hoạt hằng ngày sẽ làm khởi phát.
6 giai đoạn đầu tiên hay tái phát các giai đoạn rối loạn lƣỡng cực.1,16 Các mối quan hệ cá nhân cũng ảnh hƣởng đến diễn tiến của rối loạn lƣỡng cực. Sự hỗ trợ về mặt xã hội của gia đình và bạn bè có thể giúp tăng cƣờng chức năng hay chống lại tác động của sự căng thẳng cho bệnh nhân, ngƣợc lại sự chỉ trích có thể gây thêm sự căng thẳng hay làm diễn tiến của bệnh nặng hơn.