Chương 1 trình bày nghiên cứu tổng quan về rối loạn trầm cảm và hệ chuyên gia mờ, cụ thể là mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần ở Việt Nam, các phương pháp chẩn đoán rối loạn trầm cảm; lý thuyết tập mờ, phép toán trên tập mờ, hệ chuyên gia, hệ chuyên gia mờ dựa trên luật, hệ chuyên gia CADIAG-2; tình hình nghiên cứu hệ chuyên gia trong chẩn đoán rối loạn trầm cảm ở trong nước và trên thế giới, đánh giá hạn chế của các nghiên cứu, từ đó đề xuất hướng nghiên cứu của luận án. Thông qua chương này, luận án cho thấy cái nhìn tổng quan về bài toán nghiên cứu của luận án; Chương 2 nghiên cứu đề xuất mô hình hệ chuyên gia mờ dựa trên luật, sử dụng tri thức khẳng định trong chẩn đoán rối loạn trầm cảm, hệ chuyên gia này được phát triển trên hệ chuyên gia CADIAG-2; các luan an 6 nội dung trình bày bao gồm: cơ sở tri thức của hệ chuyên gia (cơ sở triệu chứng, cơ sở bệnh, cơ sở luật khẳng định); cơ chế suy luận của hệ chuyên gia; thực nghiệm hệ chuyên gia với 264 trường hợp người bệnh rối loạn trầm cảm; và phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm. Chương 3 trình bày nghiên cứu đề xuất mô hình hệ chuyên gia mờ dựa trên luật kết hợp tri thức khẳng định và tri thức phủ định; hệ chuyên gia được phát triển, cải tiến từ hệ chuyên gia mờ dựa trên luật sử dụng tri thức khẳng định cho chẩn đoán rối loạn trầm cảm đã được nghiên cứu ở chương 2; trình bày cải tiến về cơ sở luật, cải tiến về cơ chế suy luận; thử nghiệm hệ chuyên gia với 264 trường hợp người bệnh rối loạn trầm cảm đã thu thập, thực nghiệm ở chương 2; và phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm. Phần kết luận nêu những kết quả nghiên cứu của luận án, đóng góp của luận án, hướng phát triển tiếp theo.
Cuối cùng là các công trình đã được công bố của luận án. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn Các kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn như sau: Ý nghĩa khoa học Đề xuất mô hình hệ chuyên gia mờ PORUL.DEP trên nền tảng Max- Min của hệ chuyên gia CADIAG-2 và xây dựng cơ sở tri thức với các luật khẳng định kết luận bệnh cho chẩn đoán rối loạn trầm cảm; Đề xuất phương pháp biểu diễn tri thức (luật phủ định) để phủ định kết luận bệnh cho chẩn đoán rối loạn trầm cảm; Đề xuất mô hình suy luận tính giá trị của các luật phủ định kết luận bệnh; Đề xuất mô hình suy luận kết hợp các luật khẳng định và các luật phủ luan an 7 định cho rối loạn trầm cảm áp dụng toán tử nhóm Abel; Đề xuất bộ luật chẩn đoán rối loạn trầm cảm theo ICD-10 cho hệ chuyên gia. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu cung cấp một công cụ đào tạo cho các bác sĩ ít kinh nghiệm về quyết định chẩn đoán rối loạn trầm cảm. Kết quả nghiên cứu có thể hỗ trợ các bác sĩ trong chẩn đoán rối loạn trầm cảm, đặc biệt là các bác sĩ tại các cơ sở y tế tuyến dưới, các bác sĩ mới ra trường.
luan an 8 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM VÀ HỆ CHUYÊN GIA MỜ Chương này trình bày nội dung tổng quan về rối loạn trầm cảm và hệ chuyên gia mờ, bao gồm: mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam, các phương pháp chẩn đoán rối loạn trầm cảm; lý thuyết tập mờ; hệ chuyên gia mờ, hệ chuyên gia CADIAG-2; tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, từ đó đánh giá các hạn chế của các nghiên cứu trước đó và đề xuất hướng nghiên cứu của đề tài luận án. Tổng quan về rối loạn trầm cảm Trong thời đại hiện nay, mặc dù khoa học - kỹ thuật nói chung và y học nói riêng đã có những bước tiến thần kỳ nhưng con người vẫn luôn phải đối mặt với rất nhiều căn bệnh nặng. Rối loạn trầm cảm là một trong những bệnh nặng về rối loạn tâm thần. Rối loạn trầm cảm phổ biến đến mức, có đến 80% dân số trên thế giới từng bị trầm cảm vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời.
Tần suất nguy cơ mắc rối loạn trầm cảm trong suốt cuộc đời là 15 - 25% [156-157]. Rối loạn trầm cảm là bệnh rối loạn tâm trạng thường gặp. Người bệnh thường có tâm trạng buồn bã, có hoặc không kèm theo triệu chứng hay khóc. Không có động lực, giảm hứng thú trong mọi việc, kể cả những hoạt động nằm trong sở thích trước đây.
Rối loạn trầm cảm ảnh hưởng đến cảm giác, suy nghĩ, hành xử của người bệnh, khiến cho người bệnh có thể gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, hay các vấn đề về thể chất và tinh thần. Bệnh có thể gặp ở bất kỳ độ tuổi nào và thường phổ biến ở nữ giới hơn nam giới. Ở các nước phát triển, căn bệnh này đòi hỏi chi phí, thời gian điều trị, các phương pháp điều trị đặc thù và quan tâm của xã hội ngày càng nhiều vì tuổi thọ của con người ngày càng được đặt lên hàng đầu. Ở Việt Nam, các cuộc điều tra dịch tễ cho thấy các bệnh rối loạn trầm cảm chiếm một tỷ lệ khá cao; bệnh thường gặp ở lứa tuổi vị thành niên hoặc trưởng thành; bệnh nặng thường dẫn tới tử vong hoặc trở thành người vô dụng [3-6].
Mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần Việt Nam Mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần Việt Nam gồm có 4 tuyến, tuyến trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã. Tuyến trung ương có (i) 2 bệnh viện chuyên khoa và 1 viện sức khỏe tâm thần với chức năng nghiên cứu khoa học và tham gia khám, chữa bệnh rối loạn tâm thần; (ii) 33 bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh (22 bệnh viện các tỉnh phía bắc và 11 bệnh viện phía nam); (iii) 25 khoa tâm thần tại các bệnh viện đa khoa; (iv) 2 trạm tâm thần tỉnh và 25 khoa tâm thần tại trung tâm phòng chống bệnh xã hội tỉnh; (v) 619 trung tâm y tế cấp huyện, các trạm y tế xã (xem chi tiết tại hình 1. Định nghĩa rối loạn trầm cảm Định nghĩa 1.1: Rối loạn trầm cảm là bệnh lý rối loạn cảm xúc, thể hiện sự ức chế ở tất cả các mặt hoạt động tâm thần (ức chế cảm xúc, ức chế tư duy, ức chế về vận động). Sự ức chế dẫn tới làm giảm sút các mặt hoạt động tâm thần và trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh hoạt, hiệu suất lao động và học tập của người bệnh [1].
Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát nhiều lần, làm suy giảm đáng kể khả năng làm việc, học tập hoặc khả năng đương đầu với cuộc sống hàng ngày. Trường hợp nặng nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự tử. Ở mức độ nhẹ, bệnh có thể được hỗ trợ chữa trị không cần dùng thuốc. Mức độ vừa và nặng, người bệnh cần được hỗ trợ điều trị bằng thuốc kết hợp với biện pháp tâm lý [6], [15].
Các phương pháp chẩn đoán rối loạn trầm cảm Trầm cảm là bệnh, cần được quan tâm, chẩn đoán và điều trị. Ở giai đoạn bệnh nhẹ, người bệnh có thể chưa cần phải dùng đến thuốc và tình trạng không quá nguy hiểm. Ở người bệnh nặng người bệnh có hành vi tự sát. Vì vậy, trên hết, người bệnh cần nhận được sự quan tâm của gia đình, người thân và cả bác sĩ để hỗ trợ khắc phục tình trạng này, bởi lẽ, trầm cảm có thể tồi tệ hơn rất nhiều nếu không được chẩn đoán, điều trị kịp thời.
luan an 10 1Hình 1. Mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần Việt Nam Chẩn đoán rối loạn trầm cảm dựa trên việc xác định các triệu chứng, dấu hiệu và các tiêu chuẩn lâm sàng. Để giúp phân biệt rối loạn trầm cảm với những biến đổi về khí sắc bình thường, rối loạn trầm cảm thường có sự suy giảm đáng kể trong các lĩnh vực xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực hoạt động quan trọng khác. luan an 11 Hiện nay, chẩn đoán rối loạn trầm cảm đã được xác định trong tâm thần học bởi 2 hệ thống chẩn đoán là hệ thống chẩn đoán của hiệp hội Tâm thần Mỹ (DSM-IV) và hệ thống chẩn đoán trong bảng phân loại bệnh quốc tế (ICD-10); các thang đánh giá rối loạn trầm cảm như PHQ-9, BECK, HAMILTON, ZUNG… Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, tại các cơ sở y tế chẩn đoán rối loạn trầm cảm đều được áp dụng các nguyên tắc chẩn đoán giai đoạn trầm cảm được mô tả trong ICD-10.
Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn trầm cảm theo ICD-10 của Tổ chức y tế thế giới có giá trị lâm sàng để chẩn đoán các mức độ rối loạn trầm cảm và được sử dụng cho nhiều nghiên cứu cộng đồng [60], [89- 90], [99]. Các thang đánh giá rối loạn trầm cảm 1. Thang đánh giá rối loạn trầm cảm PHQ-9 [91], [160] được hai bác sĩ Spitzer Williams và Kroenke hợp tác thiết kế. Người bệnh có thể sử dụng PHQ-9 để tự [đánh giá mức độ rối loạn trầm cảm.
PHQ-9 bao gồm 9 câu hỏi. Mỗi câu hỏi có sẵn 4 đáp án. PHQ-9 được thiết kế nhằm sàng lọc và hỗ trợ theo dõi tình trạng đáp ứng điều trị của người bệnh. Thang đánh giá trầm cảm PHQ-9 có thể thực hiện hàng tuần, hàng tháng.
Kết quả đánh giá rối loạn trầm cảm PHQ-9 theo tổng điểm, nếu 0 ≤ tổng điểm ≤ 4: không trầm cảm; 5 ≤ tổng điểm ≤ 9: có nguy cơ; 10 ≤ tổng điểm ≤ 14: trầm cảm nhẹ; 15 ≤ tổng điểm ≤ 19: trầm cảm vừa; 20 ≤ tổng điểm ≤ 27: trầm cảm nặng. Thang đánh giá rối loạn trầm cảm BECK [42], [160] được tạo ra bởi Aaron T. BECK là một thang đánh giá gồm 21 câu hỏi, từ câu 1 đến câu 15 để kiểm tra nội sinh, từ câu 16 đến 21 là để kiểm tra trầm cảm tâm căn, trầm cảm cơ thể. Tổng điểm cho 21 câu hỏi là 63.
Thang đánh giá trầm cảm BECK đã được tổ chức y tế thế giới công nhận trong điều trị. Mỗi câu hỏi được đánh giá bởi một số điểm phản ánh mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng. Đối tượng được đánh giá luan an 12 sẽ khoanh tròn vào số liên quan đến nhận định chính xác nhất cảm xúc của mình trong hai tuần qua. Chỉ số BECK chỉ đơn giản là cung cấp thông tin về mức độ triệu chứng trầm cảm.