CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu: Khái niệm “bệnh Hysteria” (bệnh tử cung) đã có từ thời Hyppocrate. Theo Platon, đó là trạng thái bất thường của tử cung, ông cho rằng tử cung lâu ngày không sinh nở, đã di chuyển khắp cơ thể, dẫn đến nhiều bệnh. Thời trung đại, sự áp chế về tôn giáo, kinh tế và chính trị, đã làm xuất hiện những dịch hysteria lớn.
Người ta không cho đó là một bệnh mà cho là một biểu hiện của ma quỷ xâm nhập. Đến thế kỷ 18, Charles Lepois cho rằng bệnh không phụ thuộc vào tử cung vì các bé gái, phụ nữ mãn kinh, đàn ông cũng có thể mắc bệnh. Sydenham Thomas (Anh) gọi hysteria là bệnh bắt chước các bệnh, ông nhận xét sự giống nhau giữa hysteria và bệnh thực thể. Hai nhà thần kinh học người Pháp là Briquet và Charcot (1859) đã kết hợp các biểu hiện đa dạng hysteria thành một đơn vị bệnh riêng.
Charcot cho bệnh hysteria là “bệnh giả vờ vĩ đại”, các triệu chứng bệnh thường phát triển trên thể địa nhân cách hysteria, đặc điểm là tính dễ ám thị. Ông mô tả những triệu chứng của hysteria và triệu chứng của bệnh thực thể như lên cơn co giật, liệt, không nói, mù,. Babinski (Pháp) cho rằng các triệu chứng của hysteria có những nét giống với triệu chứng thần kinhcủa những bệnh thực thể. Dựa vào kết quả ám thị của thầy thuốc khi khám bệnh mà người bệnh có những triệu chứng này khác, nên Babinski đã đề nghị thay thuật ngữ “hysteria” bằng thuật ngữ “bệnh ám thị”.
Đến năm 1980, Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ “rối loạn chuyển hoán” (Conversion Disorder) trong DSM – III để định nghĩa cho tình trạng mất hoặc thay đổi các chức năng của cơ thể do các xung đột tâm lý hay nhu cầu tâm lý mà cá nhân không giải quyết được thì chuyển thành triệu chứng này hay triệu chứng khác. Thuật ngữ “rối loạn phân ly” cũng bắt đầu được dùng để chỉ một nhóm các rối loạn tâm thần xuất hiện do nguyên nhân tâm lý nhưng chỉ bao gồm 5 nhóm chính [9] [22] : - Quên phân ly (Dissociative Amnesia). Nghiên cứu một số yếu tố tâm lý – xã hội có liên quan đến RLPL ở trẻ em 7 - Cơn bỏ trốn phân ly (Dissociative Fugue). - Rối loạn nhận dạng cơ thể (Dissociative Identity Disorder).
- Rối loạn giải thể nhân cách (Depersonalization Disorder). - Các rối loạn không biệt định khác (Dissociative Disorder not otherwise Specified). Đến DSM – IV, về cơ bản vẫn giữ nguyên cách phân loại như trong DSM – III. Trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 9 (ICD – 9), Tổ chức y tế thế giới không tách riêng hai rối loạn trên mà gộp chung lại thành một loại và mang tên: “Rối loạn tâm căn hysteria”.
Từ năm 1992, để tránh hiểu sai về bệnh, các nhà tâm thần học hiện đại đã thống nhất đổi tên thành các RLPL trong ICD – 10. Hiện nay việc thay thế cụm từ “hysteria” bằng cụm từ “rối loạn phân ly” là một bước phát triển mới vừa mang tính kế thừa vừa mang tính thực tiễn của tâm thần học hiện đại. Tuy nhiên hiện nay thuật ngữ “hysteria” vẫn còn được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến do việc cập nhật kiến thức tâm thần học còn hạn chế. Các nhà tâm thần học, các nhà tâm lý lâm sàng trong thời gian gần đây trên thế giới và cả ở Việt Nam cũng đã bắt đầu đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu về căn bệnh này.
Khái niệm RLPL: 1. Định nghĩa: - Theo cuốn từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện: “Rối loạn phân ly là một bệnh biểu hiện qua nhiều triệu chứng khác nhau, giống đủ loại bệnh như bại liệt, đau bụng, đau nhức, ho khan, tức ngực, mất cảm giác. nhưng không thể tìm ra một nguyên nhân thực thể nào”. [27] - Theo cuốn Tâm thần học của Nguyễn Việt: “Rối loạn phân ly là một loại bệnh tâm căn, tức là do căn nguyên tâm lý, xuất hiện sau những sang chấn tâm lý trên một nhân cách có những đặc điểm riêng, nói chung là yếu”.S Võ Văn Bản: “Rối loạn phân ly là những triệu chứng lâm sàng không kèm theo tổn thương thực thể.
Những rối loạn này thể hiện mất một phần Nghiên cứu một số yếu tố tâm lý – xã hội có liên quan đến RLPL ở trẻ em 8 hoặc hoàn toàn sự hợp nhất bình thường giữa trí nhớ quá khứ và ý thức về đặc tính cá nhân, kết hợp với những cảm giác vận động không phù hợp với tổn thương thực thể”.[2] Tóm lại, rối loạn phân ly là một nhóm các rối loạn tâm thần thường xuất hiện sau các SCTL tác động lên những người vốn có nhân cách yếu hoặc loại hình thần kinh nghệ sĩ, biểu hiện lâm sàng đa dạng với nhiều loại triệu chứng giống như bệnh cơ thể của hệ thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, tiêu hoá,. nhưng không có bằng chứng tổn thương thực thể. Đặc điểm cơ bản của các rối loạn này là bệnh nhân có biểu hiện tăng cảm xúc kết hợp với tính ám thị, tự ám thị và các triệu chứng có thể hết bằng liệu pháp tâm lý ám thị. [3] [5] [7] [26] [29] Ở trẻ em, RLPL thường gặp nhất là lứa tuổi dậy thì và tiền dậy thì với những nét tính cách nhi hoá thoái lùi, điệu bộ, phô trương, thích hình thức, hoặc ở những trẻ có bố mẹ quá lo lắng, chiều chuộng con.
SCTL gây RLPL ở trẻ em có thể là khi trẻ bị đánh mắng, bị phạt ở nhà hoặc ở trường, chứng kiến cảnh người khác bị tai nạn hoặc bị một bệnh nào đó. Đôi khi SCTL dù rất nhẹ cũng có thể gây ra rối loạn này do sự chịu đựng kém của nhân cách yếu. [7] 17] RLPL tập thể: Đa số các RLPL xảy ra trên các cá nhân nhưng cũng có thể phát thành dịch. Năm 1982, Small và Nicholi đã mô tả một dịch RLPL xảy ra ở một nhóm lớn học sinh tiểu học với các biểu hiện: mệt mỏi, chóng mặt, run chân tay sau khi trẻ nam là lớp trưởng bị các biểu hiện như trên.
Tại Việt Nam điển hình có dịch RLPL ở đội thanh niên xung phong ở Quảng Bình vào năm 1968, và đội thanh niên xung phong ở Lâm Đồng năm 1977 trong đó có 30 – 50% số thanh niên trong đội có các cơn xung động cảm xúc phân ly như cơn khóc, cơn cười, cơn la hét tập thể làm rung động cả một khu rừng trong điều kiện chiến tranh ác liệt [7, 13]. Đặc biệt gần đây xảy ra ở trường PTTH ở Đà Nẵng, PTTH Hạ Hoà (Phú Thọ), ở Bố Trạch – Quảng Bình đã gây tâm lý hoảng loạn ở các em học sinh, phụ huynh và giáo viên. Nếu như RLPL xảy ra ở từng cá nhân trẻ em với tỷ lệ giữa nam và nữ là tương đương thì RLPL tập thể hay gặp hơn ở các tập thể nữ. Dịch thường xảy ra Nghiên cứu một số yếu tố tâm lý – xã hội có liên quan đến RLPL ở trẻ em 9 khi một đứa trẻ trong nhóm xuất hiện cơn RLPL.
Đứa trẻ này thường có vị trí, vai trò nổi bật trong nhóm và thường biểu hiện bệnh nặng nề hơn những đứa trẻ bị sau đó. Yếu tố thuận lợi cho dịch xảy ra ở một tập thể là khi tập thể này rơi vào tình trạng lo âu căng thẳng: chiến tranh ác liệt, học hành căng thẳng,. Một số đặc điểm chung: 1.1 Tỉ lệ mắc bệnh: Theo các tài liệu nước ngoài, tỉ lệ mác bệnh hàng năm từ 0,3 – 0,5% số dân. Sự dao động phụ thuộc vào các nhiều yếu tố khác như: điều kiện kinh tế – xã hội, văn hoá tôn giáo, chiến tranh, điều kiện địa lý.
Ở trẻ em theo một số nghiên cứu tỉ lệ mắc bệnh chiếm 1 – 2% đối tượng nghiên cứu. [33] Ở nước ta chưa có một nghiên cứu hệ thống nào về tỉ lệ mắc RLPL trong cộng đồng nói chung cũng như trong trẻ em nói riêng. Nhưng theo tổng kết ở khoa Tâm bệnh – Viện Nhi Trung ương hằng năm, RLPL chiếm tỉ lệ cao nhất trong các RLTT ở trẻ em, chiếm 50 – 53,4% tổng số bệnh nhân có vấn đề về SKTT. Giới: Theo các nhà nghiên cứu thì RLPL thường phát sinh ở tuổi trẻ, gặp ở nữ nhiều hơn nam, tỉ lệ nữ/nam = 2/1 [1] [13].
Tỉ lệ mắc bệnh theo giới cũng còn phụ thuộc vào độ tuổi: RLPL ở tuổi dậy thì và tiền dậy thì xuất hiện tương đương giữa nam và nữ, còn sau tuổi dậy thì tỉ lệ nữ mắc cao hơn nam. Như vậy có thể thấy được các nhận định cho rằng RLPL chiếm ưu thế ở nữ không được chấp nhận hoàn toàn ở trẻ em. Tuổi: Quan niệm cho rằng RLPL chỉ xảy ra ở phụ nữ (bệnh tử cung) không còn được chấp nhận từ thế kỷ 18 vì Charles Lepois cho rằng bệnh không phụ thuộc vào tử cung vì các bé gái, phụ nữ mãn kinh, và đàn ông cũng mắc bệnh. Ngày nay, theo các tài liệu nghiên cứu thì RLPL đều có thể xảy ra từ lứa tuổi tiền dậy thì đến trưởng thành, kể cả người già, nhưng hay gặp nhất là ở lứa tuổi trẻ.
Theo Nghiên cứu một số yếu tố tâm lý – xã hội có liên quan đến RLPL ở trẻ em 10 nghiên cứu của Quách Thuý Minh và cộng sự thì độ tuổi trung bình của RLPL trẻ em là 11 tuổi, tuổi thấp nhất có thể gặp là 6 tuổi. Nguyên nhân và cơ chế của RLPL: 1. Nguyên nhân: Các nhà khoa học đã cố gắng để tìm ra nguyên nhân của loại bệnh này. Có người đã nghĩ đến yếu tố di truyền nhưng qua các nghiên cứu cho thấy yếu tố này không có vai trò quyết định.
Những điều tra gia đình của MacIness cho thấy kết quả âm tính bởi vì trong 30 biểu đồ phả hệ đi từ một người RLPL, ông chỉ tìm thấy hai bố mẹ bị bệnh, còn số một trăm mười bảy anh chị em không một ai bị bệnh. Slater không tìm thấy một sự trùng hợp nào đối với RLPL trên số 24 đôi đẻ sinh đôi được nghiên cứu [21]. Như vậy đâu là nguyên nhân gây ra RLPL? 1. Các sang chấn tâm lý: Nguyên nhân chủ yếu của RLPL là các SCTL, đó thường là những chấn thương gây cảm xúc mạnh như lo sợ cao độ, tức giận quá mức, thất vọng nặng nề,.
Thường thì SCTL ở RLPL dễ tìm thấy hơn là ở bệnh tâm căn suy nhược vì có tính chất cấp, mạnh, và nhất là bệnh thường phát sinh một thời gian ngắn ngay sau khi có sang chấn [26]. Đa số các SCTL gây RLPL là các sang chấn cấp tính.