CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢN TÍNH TỰ NHIÊN VÀ BẢN CHẤT XÃ HỘI CỦA CON NGƯỜI VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA CHÚNG TRONG CẤU TRÚC NHÂN CÁCH 1. CÁC QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC TRƯỚC VÀ NGOÀI MÁC VỀ VẤN ĐỀ BẢN TÍNH CON NGƯỜI Các quan điểm triết học trước Mác thường chưa có sự phân biệt giữa bản tính tự nhiên và bản chất xã hội của con người nên thường tuyệt đối hóa vai trò của bản tính tự nhiên bẩm sinh của con người trong nhân cách. Khái niệm “bản tính” (Triết học Trung Quốc gọi là “nhân tính” – tính người, triết học phương Tây gọi là bản tính tự nhiên của con người - human nature) dùng để chỉ những phẩm chất và năng lực tâm lý có sẵn khi con người sinh ra trước khi được giáo dục. Một số quan điểm duy tâm, tôn giáo đồng nhất bản tính bẩm sinh của con người với một linh hồn bất tử có trước cơ thể; một số quan điểm khác xuất phát từ chủ nghĩa tự nhiên cho rằng con người vốn sinh ra đã có tính thiện hoặc tính ác.
Quan niệm về bản tính con người trong triết học Phương Đông Điển hình cho tư tưởng triết học về bản tính con người ở Phương Đông đó chính là quan điểm của Ấn Độ và Trung Quốc mà tiêu biểu là triết học Phật giáo và triết học Nho giáo. Triết học Ấn Độ chịu ảnh hưởng nặng nề của tôn giáo, nên khi luận bàn về bản tính con người không thể thoát khỏi triết học của tôn giáo. Tôn giáo và triết học duy tâm Ấn Độ phân chia bản tính bẩm sinh của con người thành hai phần và đối lập chúng với nhau một cách cực đoan: phần linh hồn (atman: linh hồn cá thể) bất tử, vạn năng, cao quý, thánh thiện vốn xuất phát từ một tồn tại siêu tự nhiên (Brahman: linh hồn vũ trụ tối cao) và phần tâm lý xấu xa, tội lỗi với những ham muốn, dục vọng xuất phát từ cơ thể vật chất tầm Luan van -9- thường. Bản tính con người ở trần tục bị biến dạng, tha hóa, không thể tự trở về giá trị của chính mình.
Cho nên muốn giải thoát linh hồn khỏi sự ràng buộc bởi đời sống vật chất tầm thường thì phải tu luyện để siêu thoát. Triết học Ấn Độ có 9 trường phái khác nhau và chia làm hai khuynh hướng: Hệ thống triết học chính thống gồm Samkhia, Nyaya, Vaisesika, Mimansa, Yoga, Vedanta; Hệ thống triết học không chính thống gồm Lokayata, Đạo Jaina, Phật giáo. Các trường phái chính thống đều thừa nhận sự tồn tại của linh hồn vũ trụ tối cáo Brahman. Họ cho rằng Brahman là thực tại duy nhất, tồn tại vĩnh cửu; còn thế giới vật chất chỉ là ảo ảnh, do sự “vô minh” của con người sinh ra.
Linh hồn cá thể (atman) chỉ là hiện thân của Brahman, bị giam hãm trong thể xác của con người. Để giải thoát cho linh hồn, con người cần phải dốc lòng tu luyện. Ở các trường phái không chính thống thì không thừa nhận Brahman và Atman. Trường phái Lokayata cho rằng cơ thể con người do 4 yếu tố vật chất: đất, nước, lửa, gió tạo nên.
Ý thức là thuộc tính của cơ thể, khi cơ thể chết đi thì ý thức cũng không còn. Lokayata cho rằng “Không có thiên đường, không có sự giải thoát, không có linh hồn, không có nghiệp báo”, vì vậy con người nên sống vui vẻ và hưởng thụ những lạc thú của cuộc đời. Quan điểm của Lokayata về cơ bản là đúng nhưng chưa thoát khỏi hạn chế của chủ nghĩa khoái lạc thô sơ, chất phác. Trong triết học Phật giáo, con người là sự kết hợp giữa danh và sắc (vật chất và tinh thần).
“Sắc thân luôn luôn quan hệ với Danh. Cũng như lòng trắng trứng với cái vỏ bao bọc thành quả trứng, cũng như thế mà Danh với Sắc của người ta không bao giờ rời nhau” [53, tr. Đời sống con người ở trần gian chỉ là ảo giác hư vô. Trong quá trình tồn tại, người nào cũng có tính trần tục và phật tính.
Trần tục chính là tham, sân, si, là vô minh, ái dục. Phật tính là tính giác ngộ về cõi niết bàn, về cõi chân Luan van - 10 - như. Với quan niệm trên, Phật giáo thừa nhận bản tính con người vốn có cái ác và cái thiện. Cuộc sống vĩnh cửu là phải hướng tới cõi niết bàn, nơi tinh thần con người được giải thoát để trở thành bất diệt.
Như vậy, Phật giáo tuy không thừa nhận Brahman – sáng tạo ra thế giới và Atman – linh hồn bất tử nhưng lại thừa nhận có thần tiên là đẳng cấp cao hơn con người. Bên cạnh đó, Phật giáo cho rằng những ham muốn, dục vọng của con người là xấu xa, tội lỗi và khuyên con người phải biết diệt ái dục, khuyên con người sống khoan dung độ lượng, phải biết yêu thương nhau, giúp đỡ đồng loại để đi đến hoàn thiện bản tính trong con người. Vấn đề bản tính con người trong triết học Ấn Độ có những hạn chế nhất định như: không tìm thấy được mối liên hệ mật thiết giữa các yếu tố vật chất và tinh thần, giữa các cá nhân và xã hội. Vì vậy, bản tính con người trong triết học Ấn Độ tạo cho con người có ảo tưởng về tồn tại tốt đẹp ngoài xã hội, về những bản tính không có thật.
Cách tu luyện của trường phái triết học Yoga tuy giúp con người rèn luyện cơ thể có tâm thanh tịnh, giải tỏa căng thẳng trong đời sống hằng ngày, hướng cho con người đến cái thiện, nhưng xét đến cùng thì mục đích của những phương pháp này chỉ là sự thể hiện mong muốn chủ quan mà thôi. Khác với triết học Ấn Độ, triết học Trung Quốc khi bàn đến bản tính con người lại có triết lý sâu sắc hơn làm cơ sở cho việc giáo dục con người và con đường trị quốc – đường lối đức trị. Khổng Tử (tên Khâu, tự Trọng Ni, 551- 479 tr.CN) là người sáng lập học thuyết Nho Gia, xuất phát từ thế giới quan duy tâm ông cho rằng bản chất con người là do thiên mệnh chi phối “Sống chết do số mệnh, giàu sang tại trời” (“Sinh tử tại mệnh, phú quý tại thiên”. Khổng Tử cho rằng bản tính con người là ngay thẳng, là trung dung, trung thứ, là thành thật với chính mình và đem lòng ứng xử với người rất tốt.
Luan van - 11 - Theo ông, bản tính con người khi mới sinh ra là giống nhau, nhưng do giáo dục, rèn luyện khác nhau mà xa nhau (“Tính tương cận dã, tập tương viễn dã”. Ngoài ra, yếu tố ngoại cảnh, môi trường xã hội ảnh hưởng rất lớn đến bản tính con người, cái tính ngây thơ ban đầu ấy có thể bị thay đổi bởi điều kiện ngoại cảnh, bởi sự tu dưỡng đạo đức sau này. “Khổng Tử cho rằng tuy tính người là do Trời định, nhưng con người bằng nỗ lực chủ quan của mình cũng có thể thay đổi được cái Thiên tính ban đầu” [57, tr. Khi đề cập đến vấn đề Trí, Khổng tử một mặt tin vào mệnh trời cho rằng tri thức bẩm sinh là tri thức thượng thặng, là tri thức thượng trí trời sinh ra đã có và không biến đổi (Luận ngữ, Qúy thị, 9), mặt khác, ông lại cho rằng trí không phải ngẫu nhiên mà có, nó là kết quả của quá trình học hỏi trong đời sống, “Học tức là đến gần với trí” (Trung dung, 20).
Quan niệm về bản tính con người của Khổng Tử mặc dù chưa lý giải gì nhiều nhưng nó đã đặt nền tảng ban đầu cho các nhà nho về sau kế thừa, phát triển. Mạnh Tử (tên là Kha, tự là Tử Dư, 372-289 tr.CN) cho rằng “bản tính con người là thiện” cái thiện là cái do trời phú, là cái tiên thiên chứ không phải do con người lựa chọn. Ông viết: “Yêu người thân là đức nhân. Kính người lớn là đức nghĩa.
Cái điều biết yêu biết kính mà cho là bản tính nhân nghĩa, không vì cớ gì khác đâu, vì là cái lòng kính yêu ấy suốt cả thiên hạ, ai ai cũng vậy” [52, tr. Ông đưa ra ba căn cứ để lý giải thuyết tính thiện của mình. Thứ nhất, con người ai cũng có lòng trắc ẩn (biết thương xót), lòng tu ố (biết hổ thẹn), lòng từ nhượng (biết cung kính) và lòng thị phi (biết phải trái) Đó là bốn đầu mối của thiện gọi là “Tứ đoan” mà trời phú cho con người. Thứ hai, đã là loài người thì ai ai cũng đều có chung cái mầm thiện vốn có.
Thứ ba, tính thiện Luan van - 12 - của con người là đều bắt nguồn từ “tâm” của mỗi con người. “Tâm’ là cái Trời phú cho ta, là cơ quan để suy nghĩ, để phân biệt phải trái, thiện ác, nên còn gọi là “lương tâm’. Bản tính con người là thiện nhưng do ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài tác động có thể làm mất đi cái tính thiện vốn có. “Tính con người ta vốn thiện, cũng như nước chảy xuống chỗ thấp… Nay nước kia đập cho nó bắn lên, có thể khiến cho nó vọt qua trán, ngăn cho nó đi ngược… ấy có phải là nguyên tính của nước thế đâu, chỉ vì cái thế của nó bị đập, bị ngăn nên mới như thế” [52, tr.
Vì vậy, Mạnh Tử chủ trương “tồn tâm dưỡng tính”, con người phải không ngừng tu dưỡng đạo đức để giữ gìn bản tính tốt đẹp của mình. Trong quá trình tu dưỡng đó, con người phải siêng năng, cần mẫn như “Ở trên núi đường mòn được người ta đi lại luôn, thì thành ngay đường lớn. Hễ bỏ vắng, không đi lại nữa thì cỏ tranh mọc lấp ngay” (Mạnh Tử, Tận tâm hạ). Tuân Tử (tên là Huống Tự là Khanh 315 – 230 tr.CN) là người phát triển truyền thống trọng Lễ của Nho gia, nhưng trái với Khổng Tử và Mạnh Tử, ông cho rằng con người vốn có “tính ác”.
Theo ông, cái tham lam, ích kỷ, gian ác, đố kỵ, dâm loạn là thuộc về bản năng vốn có của con người. Theo bản năng sinh lý ấy thì “con người ta sinh ra muốn mầu sắc, tai thích âm thanh, miệng khoái mùi vị, tâm chuộng lợi lộc, xương cốt da thịt thú khoái lạc. Tất cả đều nảy sinh từ tính tình của con người… thuận theo tính ấy của con người, tất nảy sinh sự tranh đoạt” (Tuân Tử, Chính danh). Mặc dù Tuân Tử cho rằng tính người là ác nhưng theo ông có thể giáo dục, cải hóa con người từ ác thành thiện: “Nhân chi tính ác, kỳ thiện giả ngụy giả” (Tính của người là ác, thiện là do người làm ra) (Tuân Tử, Tính ác, XXIII).
Ông vạch rõ hành vi đạo đức của con người là do thói quen lâu ngày mà thành.