Chương 1: Tổng quan về điện não đồ trong động kinh và các phương pháp phân tích tín hiệu điện não. Chương 2: Bộ lọc Gauss và bộ Phân cụm mờ. Chương 3: Áp dụng bộ lọc Gauss và bộ Phân cụm mờ để phát hiện gai động kinh trong sóng điện não. Tài liệu tham khảo.
TỔNG QUAN VỀ ĐIỆN NÃO ĐỒ TRONG ĐỘNG KINH VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÍN HIỆU ĐIỆN NÃO 1. Điện não đồ Theo nguồn [1], bản ghi điện não đồ EEG là sự biểu diễn đồ thị về sự biến đổi hiệu điện thế theo thời gian giữa các điện cực gắn trên da đầu, tương ứng với các vùng khác nhau của vỏ não. EEG đem lại những thông tin liên quan đến hoạt động điện của não bộ dựa vào các chỉ số như biên độ, tần số, hình thái, sự phân bố về mặt không gian và mức độ phân cực của hiệu điện thế. Việc nghiên cứu các đặc trưng của sóng não EEG cho phép bác sĩ và các nhà khoa học chẩn đoán được các hoạt động bất thường xảy ra trong não bộ.
Để thu tín hiệu EEG, một bộ điện cực được gắn lên đầu theo tiêu chuẩn đặt điện cực 10-20 quốc tế do Jasper đề xuất. Tiêu chuẩn vị trí 10-20% này được quốc tế công nhận từ năm 1981 và ứng dụng rộng rãi trong các thiết bị ghi điện não. Tiêu chuẩn bao gồm các điện cực bố trí theo tỷ lệ xác định trên vùng da đầu. Các điện cực cần được đặt đối xứng 2 bên.
Bên dưới là minh họa vị trí bố trí các điện cực cơ bản trên da đầu theo chuẩn 10-20 quốc tế. 1 Bố trí 21 điện cực theo chuẩn quốc tế 10-20. Thông thường, chúng ta sử dụng một bộ gồm 21 điện cực gắn trên da đầu theo tiêu chuẩn đặt điện cực 10-20 quốc tế. Vị trí các điểm mốc bao gồm: ● Điểm gốc mũi (nasion), nằm giữa 2 chân lông mày.
● 2 ống tai bên ngoài. Các ký hiệu vùng não: ● F - vùng trán (Frontal) ● C - vùng trung tâm (Central) ● O - vùng chẩm (Occipital) ● P - vùng đỉnh (Parietal) Số lẻ đánh dấu bên trái và số chẵn đánh dấu bên phải. "10" và "20" cho biết khoảng cách giữa các điện cực liền kề lần lượt là 10% và 20% tổng khoảng cách trước-sau hoặc phải-trái của hộp sọ. Gần đây, Hội điện não Hoa Kỳ đã thông qua một số thay đổi trong danh pháp gốc, trong đó T3-T6 đổi thành T7-P8 nhằm mở rộng phạm vi đặt điện cực (vd F9-P10) và chỉ rõ vị trí chính xác hơn (vd AF7, FT9).
Điều này giúp định vị tổn thương não chính xác hơn. 2 Bố trí điện cực điện não mở rộng theo chuẩn 10-20 quốc tế. Ðặc điểm của EEG EEG được đặc trưng bởi các thông số: biên độ, tần số, hình dạng, mức độ phân cực, sự phân bố vị trí và những yếu tố làm thay đổi hiệu điện thế.3 mô tả các 5 kiểu nhịp sóng cơ bản của tín hiệu EEG. Các tín hiệu ghi nhận được trên da đầu có biên độ dao động từ vài μV đến khoảng 200 μV và tần số nằm trong khoảng 0,5-70Hz.
3 Các nhịp sóng cơ bản của EEG Nếu trạng thái của đối tượng đo ổn định trong một khoảng thời gian, các nhịp này có dạng tuần hoàn [1]. Các nhịp cơ bản của EEG được chia thành 5 dải như sau: ● Nhịp Delta: tần số 0. ● Nhịp Theta: tần số 4-8 Hz. ● Nhịp Alpha: 8-13 Hz.
● Nhịp Beta: 13-30 Hz. ● Nhịp Gamma: có tần số lớn 30Hz. Nhiễu trong điện não đồ. Điện não đồ và động kinh Tín hiệu điện não thường chịu ảnh hưởng của nhiều loại nhiễu khác nhau.
Các loại nhiễu này được chia thành 2 nhóm chính: nhóm thứ nhất bao gồm nhiễu do thiết bị (nhiễu điện lưới, nhiễu tiếp xúc điện cực, nhiễu linh kiện điện tử.); nhóm thứ hai là nhiễu có nguồn gốc sinh lý từ cơ thể con người như nhiễu do chuyển động mắt (EOG), hoạt động cơ bắp (EMG) và tim (ECG). 6 Để giảm thiểu và loại bỏ nhiễu trong EEG, có 3 phương pháp chính: thứ nhất, ngăn chặn và loại bỏ các nguồn gây nhiễu; thứ hai, giảm thiểu tác động của nguồn nhiễu; thứ ba, nhận dạng và loại bỏ các tín hiệu nhiễu. Cách tốt nhất là loại bỏ nguồn gây nhiễu, tuy nhiên điều này không khả thi với một số loại nhiễu như EOG. Thứ hai, có thể sử dụng các thiết bị đo có độ nhạy cao, khả năng lọc nhiễu tốt để giảm thiểu nhiễu.
Thứ ba, các thuật toán xử lý tín hiệu số hiệu quả có thể được dùng để nhận dạng và loại bỏ các nhiễu, ví dụ EMG và EOG. Nhiễu điện lưới trong EEG thường được loại bỏ bằng bộ lọc FIR với dải thông 0,5-45 Hz [3,12]. Khái niệm về cơn động kinh Cơn động kinh là hiện tượng bất thường ở não bộ, đặc trưng bởi sự hoạt động quá mức đồng bộ của một nhóm tế bào thần kinh vỏ não. Cơn động kinh thể hiện ở các biểu hiện lâm sàng như co giật, mất ý thức, cảm giác kì lạ cho đến những triệu chứng thị giác hay ảo giác [1].
Cơ chế bệnh sinh của cơn động kinh là do sự mất cân bằng điện giữa khử cực và tái cực quá mức của màng tế bào thần kinh, dẫn đến sự đảo ngược điện thế màng từ trạng thái nghỉ -85mV lên +30mV trong giai đoạn khử cực. Khi đó xảy ra hiện tượng lan truyền xung động quá mức giữa các tế bào thần kinh. Các trạng thái hoạt động bất thường này có thể được ghi nhận bằng các kỹ thuật đặt điện cực ghi điện thế trong tế bào, ngoài tế bào hay trên bề mặt da đầu. Các bản ghi điện não đồ (EEG) cho phép theo dõi hoạt động điện của vỏ não, giúp chẩn đoán phân biệt các hội chứng lâm sàng, phân loại các dạng cơn động kinh và xác định vùng não bị ảnh hưởng, thậm chí còn giúp xác định bệnh lý gây động kinh ở một số trường hợp.
Trong lâm sàng, với bệnh nhân động kinh, EEG được ghi ở 2 giai đoạn: ghi trong cơn động kinh và ghi ngoài cơn. Điện não đồ trong cơn động kinh 1.1 Đặc điểm Các cơn động kinh có xu hướng xảy ra, thời gian và vị trí khác nhau ở từng thời điểm và với mỗi bệnh nhân. Tuy nhiên, có một số đặc điểm chung cơ bản: - Giảm hoạt động điện não nền: Ban đầu cơn động kinh, hoạt động điện não nền giảm đột ngột về tần số. Đồng thời xuất hiện một nhịp điện mới với tần số tăng dần.
Sau đó, khi tần số giảm, biên độ tăng dần và các sóng nhọn dần phân biệt rõ hơn. 7 - Tăng đột ngột điện thế hoạt động điện não nền. - Các phóng điện ngắn (<15s) trên EEG ít khi gây ra triệu chứng lâm sàng rõ rệt. Các phóng điện kéo dài (15-30s) thường gây ra rối loạn nhận thức, triệu chứng khác.
- Cấu trúc và hình thái sóng nhọn-sóng có thể thay đổi. Trong một số cơn phức tạp (vd cơn vắng ý thức khi ngủ), có thể quan sát thấy sự tập hợp nhiều đỉnh nhọn trong phức hợp sóng nhọn-sóng, gọi là tổ hợp đa sóng nhọn.2 Động kinh toàn bộ Trạng thái động kinh toàn bộ co giật: điện não đồ có các phóng lực kịch phát xuất hiện hai bên mặc dù thường không đối xứng. Trạng thái động kinh toàn bộ không co giật: điện não đồ thường là đa hình thái. Các gai - sóng chậm từ 1Hz đến 2Hz.
Toàn bộ hai bán cầu tạo nên một hình ảnh bất thường khá đặc biệt này trong cơn. Động kinh cục bộ * Các cơn động kinh cục bộ đơn giản. + Các cơn động kinh cục bộ với triệu chứng vận động. - Tăng trương lực và co giật, biểu hiện trong cơn các cơ trở nên co cứng và giật thành nhịp khu trú tại một nhóm cơ, một đoạn chi hoặc một phần của cơ thể.
Trong loại cơn này điển hình nhất là loại cơn theo hành trình Bravais - Jackson là có thể định khu được tương đối chính xác vị trí của ổ động kinh. Các phóng lực ĐK thuộc loại này xuất phát từ hồi trán lên và lan theo một hướng nhất định. Trên lâm sàng thấy xuất hiện tăng trương lực, sau đó giật một phần của chi hoặc một bên đối diện với ổ ĐK sau đó dần lan ra các vùng khác của nửa người. - Cơn loạn trương lực (cơn trương lực tư thế), đôi khi khó phân biệt với các cơn tăng trương lực, nhất là khi hai loại này phối hợp với nhau, trong cơn ĐK có loạn trương lực, các cơ ít bị cứng và ít bị cố định hơn.
Người ta cho rằng loạn trương lực là hậu quả của rối loạn chức năng các nhân xám trung ương do xung động ĐK ở vỏ não gây ra. - Cơn quay mặt quay đầu sang bên đối diện với ổ gây động kinh, định khu của loại cơn này rất đa dạng tuỳ theo quay mắt và quay đầu có phối hợp với nhau hay không, quay nhanh hay chậm, giật hay tăng trương lực, có phối hợp với xoay người hay không? Có một số dấu hiệu gợi ý định khu ổ ĐK: quay mắt quay đầu phối hợp với các 8 triệu chứng tăng trương lực tứ chi hướng đến ổ ĐK nằm tại vùng trán sau bên. Quay mắt chậm kèm giật mắt hay gặp trong tổn thương thùy chẩm. Quay vẹo đầu quá mức gây xoay người có thể gặp trong ĐK thuỳ đỉnh và ngoài ra các cơn quay mắt còn có thể xuất phát ở vùng vỏ não, vận động chi phối nhãn cầu và đặc biệt vỏ não vùng trán.
- Cơn xoay, thường có nguồn gốc ở thuỳ đỉnh nhưng không có giá trị định khu đặc hiệu. Trong cơn người bệnh xoay xung quanh trục cơ thể, trước đó có thể có quay mắt quay đầu. Vị trí ổ ĐK nằm ở vùng vỏ não tiền đình hoặc do phóng lực ĐK tại vỏ não gây rối loạn thường không đối xứng chức năng các hạch nền. - Cơn rối loạn phát âm, bệnh nhân đột ngột ngừng nói, triệu chứng này có thể thấy khi ổ ĐK nằm tại hồi trán 3 bên bán cầu ưu thế hoặc diện vận động phụ.
Nói lập lờ cũng như phát âm thành nhịp một nguyên âm, một từ thường do ổ ĐK thùy trán gây ra, phát âm lảm nhảm không có ý nghĩa và thường thấy ổ ĐK phần sau hồi thái dương trên. - Hiện tượng vận động âm tính, gần đây được mô tả như một triệu chứng đặc biệt có thể gặp trong ĐKCB. Thay vì các biểu hiện tăng trương lực, giật cơ, ở các bệnh nhân này lại biểu hiện bằng các dấu hiệu thiếu sót bó tháp hoặc giảm trương lực cơ trong cơn.