Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG ĐỊNH KHUNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 1. Khái niệm và cấu thành cơ bản của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 1. Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Theo từ điển tiếng việt, chiếm đoạt được hiểu là “chiếm của người làm của mình bằng cách dựa vào vũ lực, quyền thế” [35,tr. Chiếm đoạt không chỉ là thuộc tính của hành vi phạm tội mà chúng còn biểu hiện là mục đích phạm tội.
Khái niệm chiếm đoạt trong dấu hiệu chiếm đoạt cần được hiểu: “là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lí của chủ sở hữu thành tài sản của mình. Chúng được biểu hiện dưới dạng hành vi hoặc mục đích phạm tội” [31, tr. Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều trường hợp chủ tài sản không phải là người đang quản lý tài sản do đó theo tác giả khái niệm trên chưa phù hợp với tình hình thực tế và cần phải bao quát cả ở khía cạnh hành vi phạm tội và mục đích phạm tội. Vì vậy, khái niệm chiếm đoạt tài sản cần được bổ sung là việc cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lý của người khác thành tài sản của mình và được biểu hiện dưới dạng hành vi và mục đích.
Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, có lỗi, chiếm đoạt hoặc nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, do trong từng điều luật quy định chưa chặt chẽ nên bên cạnh việc thiếu thống nhất khi xác định dấu hiệu hành vi của từng tội, thực tiễn còn có những quan điểm khác nhau trong việc xác định dấu hiệu chiếm đoạt đối với các tội này. Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu, tác giả phân tích làm rõ dấu hiệu chiếm 7 đoạt trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt và nêu lên những quan điểm nhận thức khác nhau trong thực tiễn áp dụng. Trong số 13 tội quy định tại chương XIV Bộ luật Hình sự 1999 (chương XVI Bộ luật hình sự 2015) thì có tới 8 tội có tính chất chiếm đoạt tài sản đó là các tội: tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Đặc điểm nổi bật của các tội xâm phạm sở hữu là có tính chất chiếm đoạt nhưng không phải tội phạm nào có tính chất chiếm đoạt đều là tội xâm phạm sở hữu ngược lại tội xâm phạm sở hữu không nhất thiết có tính chất chiếm đoạt như các tội: tội chiếm giữ trái phép tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhà nước, tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước. Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những tội xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt nên trong cấu thành tội phạm của những tội này có dấu hiệu chiếm đoạt. Vì vậy, các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, có lỗi, nhằm chuyển dịch trái phép tài sản đang thuộc quyền sở hữu của người khác thành tài sản của mình. Hậu quả của các tội xâm phạm sở có tính chất chiếm đoạt là gây thiệt hại về tài sản.
Có thể nói thiệt hại về tài sản là thước đo đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Trong một số tội, giá trị tài sản bị thiệt hại còn là căn cứ để phân biệt tội phạm với hành vi vi phạm như: Công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nếu chưa đến mức quy định của Bộ luật Hình sự thì chưa bị coi là tội phạm. 8 Ví dụ: Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị dưới 2 triệu đồng, nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng đã được xóa án tích thì chưa bị coi là tội phạm. Tuy nhiên đối với một số tội phạm ngoài thiệt hại về tài sản, tội xâm phạm sở hữu còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến hoạt động của các cơ quan tổ chức.
Cấu thành cơ bản của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt a. Về chủ thể Chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là chủ thể thường. Theo BLHS năm 1999, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm mà khung hình phạt cao nhất từ 7 năm tù trở xuống. Khoản 2 Điều 12 quy định: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng” Khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự quy định: “Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm, chung thân hoặc tử hình” [8, tr.
Về yếu tố chủ thể đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo BLHS năm 2015 có sự thay đổi, theo đó đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nhiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại các Điều 168 (Cướp 9 tài sản), Điều 169 (Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Điều 170 (Cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (Cướp giật tài sản); Điều 173 (Trộm cắp tài sản); b. Về khách thể Theo khoa học luật hình sự, khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Nghiên cứu quy định của Bộ luật hình sự đối với các tội từ Điều 133 đến Điều 140 và thực tiễn áp dụng, các tội từ Điều 133 đến Điều 136 Bộ luật hình sự có khách thể là quan hệ sở hữu và quyền nhân thân; Để xâm phạm quan hệ sở hữu, người phạm tội phải có hành vi xâm hại quan hệ nhân thân. Trong đó, quan hệ nhân thân rõ ràng quan trọng hơn quan hệ sở hữu nên các tội này có cấu thành hình thức, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội xem như tội phạm đã hoàn thành.
Như trình bày bên trên, người thực hiện hành vi vi phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đều có ý thức chiếm đoạt. Xuất phát từ khách thể được bảo vệ mà hành vi khách quan của các tội này không có dấu hiệu chiếm đoạt cho nên dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua mục đích phạm tội. Vì vậy, dấu hiệu mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các tội này. Đây là cơ sở phân biệt các tội này với các tội khác do Bộ luật hình sự quy định có hành vi khách quan tương tự như hành vi phạm tội của các tội này.
Đối với tội cướp giật tài sản, mặc dù khách thể mà tội này xâm phạm cũng là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân nhưng khác với các tội tại các Điều 133, 134, 135 Bộ luật Hình sự. Hành vi khách quan do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội cướp giật tài sản xâm phạm trực tiếp đến quan hệ sở hữu và qua việc xâm phạm quan hệ sở hữu mới xâm phạm đến quan hệ nhân thân nên dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua hành vi chiếm đoạt. Đối với các tội từ Điều 137 đến Điều 140 Bộ luật Hình sự có khách thể chỉ là quan hệ sở hữu. Cũng như tên gọi của chương XIV khách thể là các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, khách thể trực tiếp bị xâm hại là quan hệ sở hữu.
Người không phải chủ sở hữu tài sản có các quyền 10 sử dụng, chiếm hữu tài sản, có nghĩa là người không phải chủ sở hữu tài sản cũng sẽ là người bị tội phạm tác động chứ không chỉ người chủ sở hữu tài sản mới là người bị tội phạm tác động. Do đó người phạm tội chỉ cần có hành vi xâm phạm một trong các quyền này sẽ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo một trong những tội phạm quy định tại chương XIV. Nhận thức đúng nội dung này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đó là có trường hợp người sở hữu tài sản bị chiếm đoạt không phải là người bị hại trong vụ án, và ngược lại có trường hợp người không phải là chủ sở hữu tài sản bị chiếm đoạt vẫn là người bị hại trong vụ án để từ đó xác lập đúng quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự. Khách thể trực tiếp của một số tội phạm trong các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt còn là sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, nhân thân của người sở hữu, người quản lý, người chiếm hữu tài sản như trong các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản với tình tiết định khung tăng nặng khi tính mạng, sức khỏe của những người này bị xâm hại.