Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng phong cách học tập của sinh viên tại các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam đang đối diện với nhiều thách thức lớn về tính chủ động. Theo báo cáo khảo sát của một chuyên gia tâm lý học giáo dục tại Đại học Sư phạm Hà Nội, có gần 55% sinh viên được hỏi thừa nhận không thực sự có hứng thú học tập, hơn 40% tự đánh giá bản thân không có năng lực tự học và gần 70% sinh viên thiếu kỹ năng tự nghiên cứu khoa học. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc học mầm non giữ vai trò nền tảng cho sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tình cảm của trẻ nhỏ. Do đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên mầm non trở thành nhiệm vụ cấp thiết hàng đầu. Sinh viên ngành sư phạm mầm non và giáo dục đặc biệt phải tiếp thu khối lượng kiến thức đồ sộ từ các môn khoa học đại cương, các môn năng khiếu đặc thù (đàn, hát, múa, vẽ) cho đến hệ thống phương pháp chuyên ngành phức tạp. Nếu thiếu đi tính tích cực nhận thức, người học rất dễ rơi vào tình trạng thụ động, đối phó và hạn chế về năng lực nghề nghiệp thực tế.

Đề tài nghiên cứu được triển khai nhằm mục tiêu nhận diện các biểu hiện, đo lường mức độ tính tích cực nhận thức, đồng thời phân tích sâu sắc mối quan hệ tương quan giữa tính tích cực nhận thức với kết quả học tập và kết quả thực tập sư phạm của người học. Phạm vi khảo sát thực tiễn được tiến hành tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh trên mẫu khách thể gồm 315 sinh viên thuộc hai khoa Sư phạm Mầm non và Giáo dục Đặc biệt, kết hợp lấy ý kiến đánh giá từ 46 giảng viên và 10 cán bộ quản lý các trường mầm non thực hành. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chuẩn xác giúp nhà trường điều chỉnh chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ sinh viên đạt kết quả thực tập loại giỏi lên trên 85% và giảm thiểu tỷ lệ thụ động trong học tập xuống dưới 10%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận vững chắc của các trường phái triết học và tâm lý học hoạt động kinh điển. Về mặt lịch sử tư tưởng, nguyên tắc phát huy tính tích cực của người học đã được khẳng định từ thế kỷ XVII qua quan điểm của nhà giáo dục lỗi lạc Jan Amos Comenius khi nhấn mạnh giáo dục phải khơi dậy năng lực phán đoán độc lập để người thầy dạy ít hơn và học sinh học nhiều hơn. Tiếp nối tư tưởng đó, các nhà tâm lý học và giáo dục học như Jean-Jacques Rousseau, Konstantin Ushinsky, John Dewey và Jean Piaget đều khẳng định nhận thức của cá nhân mang bản chất chủ động, tích cực và diễn ra thông qua quá trình tự khám phá thế giới xung quanh.

Dưới góc độ tâm lý học hoạt động, đề tài kế thừa sâu sắc quan điểm của Aleksei Leontiev và Aleksandr Zinchenko, khẳng định tính tích cực của nhân cách được hiện thực hóa trong quá trình nhận thức cảm tính, tư duy và ý chí cảm xúc. Phản ánh tâm lý không phải là sự sao chép thụ động như gương soi mà là quá trình tương tác cải tạo tích cực giữa chủ thể và đối tượng. Tại Việt Nam, nghiên cứu tiếp thu khung lý thuyết về tính tích cực nhận thức của các tác giả như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Kỳ, Thái Duy Tuyên và công trình của nhà nghiên cứu Võ Thị Ngọc Châu.

Mô hình nghiên cứu định hình tính tích cực nhận thức qua 3 mức độ phát triển:

  • Mức độ cao: Người học thể hiện tính độc lập tư duy, chủ động chiếm lĩnh tri thức, hiểu sâu rộng tài liệu và linh hoạt vận dụng lý thuyết vào thực tiễn đời sống.
  • Mức độ trung bình: Người học tiếp thu đầy đủ nội dung chương trình đào tạo nhưng còn mang tính thụ động, chủ yếu nhằm đáp ứng yêu cầu môn học.
  • Mức độ thấp: Người học không lĩnh hội đầy đủ tri thức, học tập rời rạc và không đáp ứng được chuẩn đầu ra.

Cấu trúc tâm lý của tính tích cực nhận thức được hình thành từ 3 nhóm động cơ nội tại (động cơ lĩnh hội tri thức, động cơ xã hội, động cơ cá nhân) và biểu hiện ra bên ngoài qua 4 thành tố hành vi: hành động học tập trên lớp, hành động tự học và tự nghiên cứu, hành động vận dụng thực tiễn và thái độ học tập.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu lý luận và hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tiễn nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao:

  • Nguồn dữ liệu thực nghiệm: Khảo sát được thực hiện trên cỡ mẫu 315 sinh viên năm thứ 2 và năm thứ 3 thuộc Khoa Sư phạm Mầm non và Khoa Giáo dục Đặc biệt của Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, mẫu nghiên cứu còn bao gồm 46 giảng viên đang trực tiếp giảng dạy tại trường và 10 cán bộ quản lý tại các trường mầm non thường xuyên tiếp nhận sinh viên đến kiến tập và thực tập sư phạm. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo khóa học và chuyên ngành được áp dụng nhằm phản ánh chính xác đặc điểm của từng nhóm đối tượng.

  • Công cụ và quy trình thu thập dữ liệu: Sử dụng hệ thống 3 phiếu trưng cầu ý kiến (Anket) được chuẩn hóa. Phiếu dành cho sinh viên bao gồm 31 chỉ báo hành vi và động cơ đo bằng thang đo 3 mức độ, kết hợp các tình huống đo lường mức độ nhận thức và bảng tự đánh giá kết quả rèn luyện. Quy trình nghiên cứu còn kết hợp phỏng vấn sâu cá nhân, quan sát sư phạm trực tiếp trong giờ học và phương pháp chuyên gia 2 vòng độc lập (vòng 1 hoàn thiện công cụ đo lường; vòng 2 thẩm định tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất).

  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS for Windows. Tác giả sử dụng thống kê mô tả (tính điểm trung bình Mean, tần số Count, tỷ lệ phần trăm) để đánh giá thực trạng; áp dụng kiểm định Independent Samples T-test và phân tích phương sai một yếu tố One-way ANOVA (kiểm định F) để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên theo năm học và theo xếp loại học lực; đồng thời phân tích hệ số tương quan tuyến tính Pearson nhằm xác định mối liên hệ biện chứng giữa tính tích cực nhận thức với kết quả học tập học kỳ và kết quả thực tập sư phạm. Việc lựa chọn các phương pháp thống kê này cho phép lượng hóa chính xác các biến số tâm lý phức tạp và loại bỏ các sai số chủ quan trong quá trình phân tích.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực nghiệm trên toàn bộ 315 sinh viên đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật sau:

  • Thứ nhất, mức độ tính tích cực nhận thức của sinh viên nhìn chung đạt mức khả quan. Điểm trung bình của tính tích cực nhận thức mức độ cao đạt 7.66 (xếp thứ nhất), mức độ trung bình đạt 7.09 (xếp thứ hai), trong khi mức độ thấp chỉ chiếm 2.25 (xếp thứ ba). Về hệ thống động cơ học tập, động cơ lĩnh hội tri thức giữ vị trí hàng đầu với điểm trung bình 1.33, tiếp đến là động cơ xã hội (Mean = 1.42) và cuối cùng là động cơ cá nhân (Mean = 1.67). Cụ thể, hai mục tiêu "học để hiểu bài" và "học để nâng cao trình độ" đạt điểm trung bình 1.26 với 75.9% sinh viên (239/315 người) lựa chọn ở mức độ thường xuyên. Các động cơ mang tính hình thức như "học để có bằng cấp" (Mean = 1.90) hay "học để được điểm cao" (Mean = 1.93) có thứ bậc thấp nhất.

  • Thứ hai, tồn tại khoảng cách đáng kể giữa hành động vận dụng thực hành và năng lực tự học, tự nghiên cứu. Trong 4 nhóm hành vi, hành động vận dụng xếp thứ nhất về mức độ thường xuyên với điểm trung bình 1.36; hành động trên lớp xếp thứ hai (Mean = 1.44); hành động tự học, tự nghiên cứu xếp thứ ba (Mean = 1.80) và thái độ học tập xếp thứ tư (Mean = 1.88). Trên lớp học, sinh viên thể hiện tính kỷ luật cao với hành vi "đến lớp nghe giảng" đạt tỷ lệ chuyên cần 97.1% (306/315 sinh viên, Mean = 1.02), "chăm chú nghe giảng" (Mean = 1.30) và "ghi bài đầy đủ" (Mean = 1.38). Tuy nhiên, hành vi "suy nghĩ và phát biểu ý kiến trong giờ học" lại có thứ bậc thấp nhất (Mean = 1.91), chỉ có 19.0% sinh viên (60 người) thực hiện thường xuyên, trong khi có tới 70.8% (223 người) chỉ dừng lại ở mức độ thỉnh thoảng. Trong nhóm tự nghiên cứu, hành vi "tích cực học ngoại ngữ để đọc sách chuyên môn" có điểm trung bình thấp nhất toàn bảng với 2.02.

  • Thứ ba, có sự phân hóa rõ rệt về tính tích cực nhận thức theo năm đào tạo. Kết quả kiểm định T-test cho thấy sinh viên năm thứ 3 có điểm trung bình tính tích cực nhận thức mức độ cao đạt 8.40, vượt trội có ý nghĩa thống kê (p = 0.000) so với sinh viên năm thứ 2 (Mean = 6.40). Điểm trung bình kết quả kiến tập và thực tập sư phạm của sinh viên năm thứ 3 cũng đạt mức 8.00, cao hơn có ý nghĩa thống kê (p = 0.000) so với năm thứ 2. Tuy nhiên, giữa hai năm học lại không có sự khác biệt ý nghĩa về phương pháp tự học và thái độ học tập lý thuyết.

  • Thứ tư, kết quả học tập tỷ lệ thuận với mức độ tính tích cực nhận thức. Nhóm sinh viên đạt học lực giỏi thể hiện tính tích cực nhận thức mức độ cao với điểm trung bình 9.01 - 9.23, tỷ lệ chuyên cần trên lớp đạt 100% không có trường hợp vắng mặt (Mean = 1.33). Ngược lại, nhóm sinh viên có học lực trung bình khá và yếu chỉ đạt điểm tính tích cực nhận thức mức độ cao là 6.70, có trên 50% sinh viên bị chi phối bởi động cơ thi cử đối phó và điểm tự học, tự nghiên cứu rơi xuống mức thấp nhất (Mean = 1.94).

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội của hành động vận dụng thực hành (Mean = 1.36) so với hành động tự học và nghiên cứu lý luận (Mean = 1.80) phản ánh chính xác đặc thù đào tạo nghề nghiệp của ngành sư phạm mầm non và giáo dục đặc biệt. Sinh viên dành phần lớn quỹ thời gian để rèn luyện các kỹ năng thao tác như đàn, hát, múa, làm đồ dùng dạy học và thực hành phương pháp tổ chức hoạt động chăm sóc trẻ. Tuy nhiên, việc xem nhẹ nghiên cứu lý luận và đối chiếu tài liệu khoa học (Mean = 1.95) cho thấy sinh viên chưa hình thành được phương pháp tự học khoa học.

Nguyên nhân của tình trạng sinh viên ít phát biểu xây dựng bài trên lớp (chỉ 19.0% thường xuyên) bắt nguồn từ hai yếu tố chính: quy mô lớp học quá đông (thường xuyên xấp xỉ 100 sinh viên trong một giảng đường) và phương pháp giảng dạy của giảng viên vẫn nặng tính độc thoại một chiều, chưa tạo ra nhiều tình huống có vấn đề để kích thích tranh biện.

Để tăng tính trực quan trong các báo cáo khoa học, hệ thống dữ liệu nghiên cứu này có thể được trình bày hiệu quả qua biểu đồ cột nhóm thể hiện sự so sánh giá trị trung bình Mean của 4 nhóm hành vi giữa sinh viên năm 2 và năm 3, kết hợp với biểu đồ mạng nhện (radar chart) minh họa cấu trúc động cơ học tập giữa các nhóm học lực giỏi, khá và trung bình. Đồng thời, một bảng ma trận tương quan Pearson hai chiều sẽ làm nổi bật mối liên hệ tuyến tính chặt chẽ giữa điểm số tính tích cực nhận thức với kết quả thực tập sư phạm thực tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực trạng và đánh giá chuyên gia qua 2 vòng khảo sát, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức cho sinh viên sư phạm:

  1. Đối với Ban Giám hiệu và Phòng Đào tạo nhà trường:

    • Tiến hành tái cấu trúc quy mô lớp học lý thuyết từ gần 100 sinh viên xuống tối đa 45 sinh viên/lớp, và không quá 25 sinh viên/lớp đối với các môn rèn luyện kỹ năng thực hành nghề nghiệp trong lộ trình 18 tháng tới.
    • Đầu tư nâng cấp 100% hệ thống phòng học chuyên dụng, trang bị đầy đủ phương tiện nghe nhìn đa phương tiện và nguồn tài liệu số hóa tại thư viện để nâng tỷ lệ sinh viên tiếp cận tài nguyên học tập trực tuyến lên trên 70% sau 1 năm học.
    • Đổi mới quy chế kiểm tra đánh giá theo hướng đa dạng hóa công cụ: kết hợp tỷ lệ 40% điểm đánh giá quá trình (bài tập nhóm, thảo luận semina, xử lý tình huống) và 60% điểm thi kết thúc học phần, loại bỏ triệt để hình thức học vẹt đối phó.
  2. Đối với đội ngũ Giảng viên trực tiếp giảng dạy:

    • Triệt để chuyển đổi tối thiểu 45% thời lượng giảng dạy từ phương pháp thuyết trình truyền thống sang phương pháp dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm chuyên đề và mô phỏng tình huống giáo dục mầm non thực tế.
    • Giao nhiệm vụ tự học cụ thể trước mỗi buổi lên lớp kèm theo phiếu định hướng tự đọc sách, hướng dẫn sinh viên kỹ năng so sánh, đối chiếu và sơ đồ hóa tư duy nội dung bài giảng nhằm tăng tỷ lệ sinh viên phát biểu xây dựng bài lên trên 50%.
    • Xây dựng tiêu chí khen thưởng kịp thời các ý kiến sáng tạo độc lập của sinh viên trong giờ học.
  3. Đối với bản thân Sinh viên sư phạm:

    • Xây dựng thời gian biểu tự học khoa học tại nhà và thư viện với định mức tối thiểu 2 giờ tự nghiên cứu cho mỗi 1 giờ học trên lớp, duy trì thói quen đọc lại bài giảng và chuẩn bị giáo án trước khi đến trường.
    • Chủ động thành lập các nhóm học tập chuyên môn, câu lạc bộ thực hành nghiệp vụ sư phạm và câu lạc bộ tiếng Anh chuyên ngành nhằm nâng tỷ lệ sinh viên tự tin đọc tài liệu tham khảo ngoại ngữ lên trên 40% trong vòng 2 học kỳ.
  4. Đối với các Trường Mầm non thực hành và cơ sở tiếp nhận thực tập:

    • Mở rộng thời lượng kiến tập thực tế thêm 25% ngay từ học kỳ thứ 3 để sinh viên sớm làm quen với môi trường giáo dục trẻ mầm non.
    • Phân công giáo viên hướng dẫn giàu kinh nghiệm theo mô hình 1 giáo viên kèm cặp trực tiếp tối đa 3 sinh viên thực tập trong toàn bộ đợt rèn nghề kéo dài 8 tuần, đảm bảo đánh giá chính xác và khách quan năng lực sư phạm thực tiễn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

  • Cán bộ quản lý giáo dục và lãnh đạo các trường đại học, cao đẳng sư phạm: Tài liệu cung cấp căn cứ thực nghiệm vững chắc để đánh giá toàn diện năng lực tự học của sinh viên, từ đó hoạch định chiến lược đổi mới chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ, quy hoạch sĩ số lớp học hợp lý và thiết lập chính sách nâng cao chất lượng rèn nghề sư phạm cho trên 300 sinh viên mỗi khóa.

  • Giảng viên các khoa chuyên môn và bộ môn phương pháp: Giảng viên có thể ứng dụng trực tiếp hệ thống 31 chỉ báo hành vi và động cơ nhận thức để thiết kế giáo án tương tác, đa dạng hóa hình thức kiểm tra đánh giá quá trình và điều chỉnh phong cách sư phạm từ độc thoại sang kiến tạo đối thoại.

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học: Đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích về phương pháp luận nghiên cứu thực tiễn, quy trình thiết kế công cụ đo lường tâm lý học và kỹ thuật xử lý số liệu SPSS với cỡ mẫu N = 315, mở ra hướng nghiên cứu mở rộng sang các khối ngành sư phạm khác.

  • Sinh viên ngành Sư phạm Mầm non và Giáo dục Đặc biệt: Giúp người học tự soi chiếu, nhận diện mức độ tích cực của bản thân, từ đó chuyển hóa động cơ học tập từ việc đối phó lấy bằng cấp sang động cơ lĩnh hội tri thức thực thụ và chủ động rèn luyện kỹ năng tự học để nâng điểm thực tập nghề nghiệp lên loại xuất sắc.

Câu hỏi thường gặp

Tính tích cực nhận thức tác động trực tiếp như thế nào đến kết quả thực tập sư phạm của sinh viên? Kết quả kiểm định T-test chứng minh sinh viên có tính tích cực nhận thức cao đạt điểm thực tập sư phạm trung bình 8.00, cao hơn vượt trội so với nhóm có tính tích cực thấp. Sự chủ động tư duy giúp sinh viên linh hoạt xử lý các tình huống sư phạm bất ngờ trên lớp mầm non, thành thạo kỹ năng tổ chức trò chơi và tạo được sự gắn kết tâm lý tích cực với trẻ nhỏ.

Tại sao sinh viên sư phạm mầm non thường thực hiện hành động vận dụng nhiều hơn tự nghiên cứu lý thuyết? Đặc thù chương trình đào tạo giáo viên mầm non đòi hỏi chuẩn đầu ra rất cao về kỹ năng thực hành trực quan như đàn, múa, hát, vẽ và phương pháp dạy học tích hợp. Do đó, điểm trung bình hành động vận dụng đạt 1.36 (xếp thứ nhất), trong khi hành động tự nghiên cứu chỉ đạt 1.80 do sinh viên phải ưu tiên phần lớn thời lượng cho việc luyện tập kỹ năng thao tác nghề nghiệp.

Quy mô lớp học đông ảnh hưởng tiêu cực ra sao đến tính tích cực nhận thức của sinh viên? Khi sĩ số lớp học lên tới gần 100 sinh viên, không gian giao tiếp sư phạm bị hạn chế nghiêm trọng. Khảo sát thực tế chỉ ra có tới 223 trên tổng số 315 sinh viên (chiếm 70.8%) chỉ thỉnh thoảng mới phát biểu ý kiến, khiến giảng viên khó kiểm soát mức độ tập trung của từng cá nhân và buộc phải duy trì lối dạy truyền thụ một chiều.

Có sự khác biệt bản chất nào về động cơ học tập giữa sinh viên học lực giỏi và sinh viên trung bình khá? Sinh viên học lực giỏi luôn đặt động cơ lĩnh hội tri thức lên hàng đầu (Mean = 1.32) và duy trì tỷ lệ chuyên cần 100% trên lớp. Trái lại, nhóm sinh viên học lực trung bình khá và yếu có trên 50% lựa chọn động cơ học vì bằng cấp và điểm số, dẫn đến thói quen chỉ tập trung ôn thi khi kỳ thi sắp diễn ra (Mean = 1.42).

Đâu là giải pháp cấp thiết nhất để cải thiện năng lực tự học ngoại ngữ chuyên ngành cho sinh viên? Giảng viên cần lồng ghép việc dịch và đọc hiểu các thuật ngữ chuyên môn mầm non vào nội dung bài tập định kỳ, đồng thời nhà trường cần số hóa 100% giáo trình và tài liệu tham khảo song ngữ tại thư viện, kết hợp tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề để sinh viên thực hành tra cứu tài liệu quốc tế.

Kết luận

  • Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và lượng hóa toàn diện thực trạng tính tích cực nhận thức của 315 sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh với điểm trung bình mức độ cao đạt 7.66.
  • Nghiên cứu chứng minh thực nghiệm mối tương quan thuận giữa tính tích cực nhận thức với kết quả học tập tại trường và điểm thực tập sư phạm (Mean = 8.00 ở sinh viên năm thứ 3).
  • Phát hiện rõ nét sự mất cân đối giữa hành động vận dụng thực hành (Mean = 1.36) và kỹ năng tự nghiên cứu khoa học (Mean = 1.80), cùng rào cản lớn về năng lực ngoại ngữ chuyên môn (Mean = 2.02).
  • Thiết lập hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao, bao gồm đổi mới quản lý đào tạo, cải tiến phương pháp dạy học, nâng cao ý thức tự học của sinh viên và tăng cường gắn kết với cơ sở thực tập.
  • Đóng góp bộ công cụ khảo sát 31 chỉ báo tâm lý chuẩn hóa, tạo tiền đề thực tiễn cho công tác kiểm định và nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mầm non trên toàn quốc.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã làm sáng tỏ cơ chế tác động của động cơ nội tại đối với kỹ năng rèn nghề sư phạm thực tế. Để duy trì và phát huy kết quả nghiên cứu, các cơ sở đào tạo sư phạm cần xây dựng kế hoạch hành động chi tiết trong lộ trình 24 tháng tới nhằm đồng bộ hóa cơ sở vật chất và phương pháp dạy học. Các nhà quản lý giáo dục, giảng viên và sinh viên hãy chủ động áp dụng ngay khung giải pháp này để kiến tạo một môi trường học tập tích cực, khai phóng và chất lượng cao.