Chương 1 đã đưa ra một tổng quan về nội dung của nghiên cứu. Cụ thể, nhóm đã trình bày sáu điểm chính: (1) Lý do thực hiện nghiên cứutì (2) Mục tiêu chính của đề taiti (3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứufi (4) Phương pháp nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượngtì (5) Đóng góp của đề tài ở cả mặt lý thuyết và thực tiễntì và (ó) Tóm tắt cấu trúc của đề tài. Ngoài ra, chương này cung cấp một cái nhìn tổng quan về sự quan tâm đến kết quả học tập của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm nghiền cứu 2.1 Vén tam ly Khái niệm vốn tâm lý (PsyCap) đã trở thành một đề tài thu hút sự quan tâm sâu sắc từ cả giới học thuật và người làm chuyên ngành, đặc biệt là khi nó liên quan đến thái độ, hành vi, và hiệu suất của nhân viên ở nhiều cấp độ phân tích khác nhau.
Dựa trên nền tảng của các nghiên cứu trước đó trong lĩnh vực tâm lý học tích cực và kết quả từ các nghiên cứu thực nghiệm, vốn tâm lý được xem như một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực quản lý nhân sự và tâm lý học tổ chức. Theo định nghĩa của Luthans và đồng nghiệp (2005), vốn tâm lý được xây dựng trên mô hình tâm lý tích cực và bao gồm bốn nguồn lực tâm lý chính: sự hy vọng, sự lạc quan, sự tự tin và sự thích nghỉ (Luthans & Youssef, 2004ti Luthans et al. Các yếu tố này được coi là những tài nguyên quan trọng giúp cá nhân phát triển và duy trì tâm lý tích cực trong quá trình làm việc. Ngoài ra, vốn tâm lý còn thu hút sự quan tâm ngày càng lớn trong lĩnh vực nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nguồn lực chiến lược đối với hiệu suất làm việc của con người (Ardichvili, 2011).
Điều này thể hiện sự nhận thức về vai trò quan trọng của tâm lý tích cực và khả năng chủ động trong quá trình làm việc, ảnh hưởng đến cả khía cạnh cá nhân và tổ chức. Theo Luthans và cộng sự (2015), vốn tâm lý được định nghĩa cụ thể và chấp nhận rộng rãi là “Trạng thái phát triển tâm lý tích cực của một cá nhân, được đặc trưng bởi: (1) Sự tự tin (năng lực bản thân) để đảm nhận và nổ lực cần thiết để thành công trong cách nhiệm vụ đầy thử tháchtì (2) Đưa ra quan điểm tích cực (lạc quan) về thành công hiện tại và trong tương laiti (3) Kiên trì hướng tới mục tiêu và khi cần thiết, chuyển hướng con đường tới mục tiêu (hy vọng) để thành công và (4) Khi gặp khó khăn và nghịch cảnh, vẫn duy trì và thậm chí vượt xa (thích nghỉ) để đạt được thành công. Vốn tâm lý của cá nhân thường mang đặc điểm ổn định và nhất quán, nhưng đồng thời, cũng có thể dễ thay đổi theo các tình huống khác nhau” (Robbins et al. Theo Luthans, Youssef va Avolio (2007b) “Vốn tâm lý không đồng nhất với các yếu tố xác định về di truyền, mà thay vào đó, nó linh hoạt theo kinh nghiệm, tuổi tác, quá trình và tình trạng tâm lý biến động”.
“Vốn tâm lý không chỉ tác động ở cấp độ cá nhân, mà còn bao gồm các khía cạnh tại cấp độ nhóm như hỗ trợ xã hội và mạng lưới mối quan hệ, đặc biệt là trong những giai đoạn căng thẳng tâm lý” (Sarason, Sarason, Shearin, & Pierce, 1987). Trong nghiên cứu này, vốn tâm lý của sinh viên các trường đại học được hiểu theo lý thuyết về vốn tâm lý của Luthans và cộng sự (2015) và được nghiên cứu bởi sự ảnh hưởng đến hiệu suất học tập của sinh viên các trường đại học ở góc độ bốn thành phần: sự tự tin, sự hy vọng, sự lạc quan và sự thích nghi. Su ty tin Sự tự tin vào năng lực bản thần được định nghĩa như sự tin tưởng của một người vào khả năng của chính mình để thực hiện mọi nhiệm vụ với sự nỗ lực tối đa (Parker và cộng sự, 1998). Những người có lòng tin mạnh mẽ vào khả năng cá nhân thường tỏ ra mạnh mẽ và kiên trì khi đối mặt với những tình huống mới, họ tận dụng mọi cơ hội một cách tự tin và hết mình với nïềm tin rằng sự thành công sẽ đến với họ.
Ngược lại, những người thiếu lòng tin vào khả năng của bản thân thường xuyên gặp khó khăn trong việc đối mặt với thách thức, do họ có xu hướng nghĩ về khả năng thất bại và họ chọn cách an toàn là tránh né những tình huống khó khăn. Tự tin vào khả năng cá nhân bao gồm sự tự tin trong việc suy nghĩ sáng tạo, khả năng học tập, đưa ra quyết định thông minh và phản ứng linh hoạt để thích nghỉ với biến động. Nó liên quan mật thiết đến sự nỗ lực trong công việc, hiệu suất làm việc, tỉnh thần kiên trì khi đối mặt với thất bại, khả năng giải quyết vấn đề một cách hiệu quả và khả năng kiểm soát tình huống (Judge và cộng sự, 1998). Tổng cộng, lòng tin vững chắc vào khả năng cá nhân là chìa khóa mở cánh cửa cho sự thành công và phát triển cá nhân.
Lý thuyết của Luthans và đồng nghiệp (2007) nhấn mạnh vai trò quan trọng của lòng tin va tự tin trong hành vi con người. Điều này ảnh hưởng đến năm hành vi quan trọng bao gồm đặt mục tiêu cao, đối mặt tích cực với khó khăn, tự tạo động lực, nỗ lực hoàn thành mục tiêu và kiên trì vượt qua khó khăn. Mức độ tự tin có thể biến đổi dựa trên sự hiện diện của người khác, đánh giá từ đối thủ cạnh tranh, tâm lý của người yếu thế, và trạng thái sinh lý như mệt mỏi hoặc lo lắng (Feist và Feist, 2002). Luthans và cộng sự (2008) đã thực hiện một nghiên cứu để chỉ ra bốn phương pháp để cải thiện niềm tin vào bản thân.
Đầu tiên, niềm tin có thể phát triển khi một nhân viên có những trải nghiệm thành công trong lĩnh vực học tập của họ. Thứ hai, niềm tin có thể tăng lên khi họ học hỏi gián tiếp bằng cách quan sát và áp dụng những kỹ nang học được từ người khác vào công việc của mình. Thứ ba, niềm tin có thể phát triển thông qua việc nhận phản hồi tích cực từ những người có uy tín trong lĩnh vực học tập. Thứ tư, niềm tin có thể được củng cố thông qua sức khỏe sinh lý và/hoặc tâm lý.
Có thể nhận thấy rằng trong ngữ cảnh này, tự tỉn vào khả năng cá nhân đóng vai trò quan trọng trong kết quả công việc. Thông thường, người có sự tự tin cao khi năng lực chuyên môn hoặc khả năng giải quyết vấn đề của họ được đánh giá cao trong quá trình học tập. Tóm lại, yếu tố này có mối liên kết mật thiết với khả năng thực hiện công việc của họ. Sự hy vọng Hy vọng, như được đề cập bởi Luthans và đồng nghiệp (2007), không chỉ là một yếu tố quan trọng đối với động lực mà còn khác biệt với mơ tưởng viển vông.
Nó không chỉ tạo nên động lực và quyết tâm để đạt được mục tiêu, mà còn giúp đối mặt với khó khăn (Luthans và Youssef, 2004). Trong ngôn ngữ hàng ngày, hy vọng thường được sử dụng, nhưng trong ngữ cảnh tâm lý học, nó mang ý nghĩa quan trọng. Được định nghĩa là động cơ tích cực dựa trên sự tương tác giữa các yếu tố như định hướng mục tiêu và cách thức đạt mục tiêu (Snyder và đồng nghiệp, 1991), hy vọng kết hợp sức mạnh ý chí và cách nghĩ có chủ đích để đối mặt với trở ngại. Các nghiên cứu chỉ ra rằng những nhà quản lý có niềm hy vọng cao thường có hiệu suất làm việc và khả năng giữ chân nhân viên tốt hơn (Peterson, 2000).
Hy vọng không chỉ là sự kỳ vọng tích cực, mà còn là một khía cạnh quan trọng của tâm lý học tích cực, gần giống với mục tiêu và tâm linh (Alessandri và đồng nghiệp, 2018). Nó không chỉ tạo ra cảm giác tự tin mà còn làm tăng sự cam kết và hài lòng với công việc (Luthans và đồng nghiệp, 2005fi Youssef và Luthans, 2007). Mặc dù có ít nghiên cứu về mối quan hệ giữa hy vọng và áp lực nơi làm việc, nhưng có bằng chứng thuyết phục từ các lĩnh vực khác chỉ ra rằng hy vọng có thể giúp cá nhân đối mặt với căng thẳng. Nó giúp giảm lo lắng và ngăn chặn sự nhận thức về tính dễ tổn thương, khả năng khó kiểm soát và khó dự đoán (Snyder, 2000).
Hỗ trợ đào tạo cũng được xem là một phương pháp hiệu quả để củng cố và xây dựng niềm hy vọng của cá nhân (Snyder, 2000). Sự lạc quan Sự lạc quan như một thái độ tỉnh thần đòi hỏi những kỹ vọng và hy vọng về kết quả tích cực trong tương lai. Nói chung, họ nghĩ rằng các sự kiện trong tương lai sẽ tích cực, thuận lợi và đáng mong đợi (Carver và Scheier, 2014). Công cụ chính để đo lường những kỳ vọng tổng quát này bằng bài kiểm tra định hướng cuộc sống (LOT-Rti Scheier, Carver, & Bridges, 1994), đánh giá liệu rằng mọi người dự đoán mọi việc là tốt hay xấu.
Tính lạc quan thường liên quan đến hạnh phúc, hy vọng, động lực, và năng lực bản thân. Những nghiên cứu trước đây cho thấy những người lạc quan thường có xu hướng nhấn mạnh những khía cạnh tích cực đối với những sự kiện căng thẳng và cảm thấy bớt căng thẳng hơn khi họ năng động và tự tin khi họ đối mặt với những thách thức (Carver và cộng sự, 2010). Trên thực tế, một số nghiên cứu đã thiết lập mối quan hệ rõ ràng giữa sự lạc quan, nhận thức về căng thẳng và khả năng đối pho (Gottschling, Hahn, Maas, & Spinath, 2016ti Saleh, Camart, & Romo, 2017). Ngoài ra, sự lạc quan có liên quan trực tiếp đến hy vọng và sự tự tin vào năng lực bản thân, và gián tiếp liên quan đến thành tích học tập (Feldman & Kubota, 2015).
Sự lạc quan cũng đã được được mô tả như một yếu tố dự báo sự điều chỉnh tâm lý đối với trường đại học và hỗ trợ xã hội phát triển (Brissette, Scheier, & Carver, 2002). Một số nghiên cứu cho thấy sự lạc quan có quan hệ cùng chiều với hạnh phúc và trái ngược với người bi quan (Scheier, Carver & Bridges, 2001).