Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Nhu cầu tự khẳng định của sinh viên" của tác giả Nguyễn Thị Thủy là luận án tiến sĩ chuyên ngành Tâm lí học (mã số 9 31 04 01), được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Hữu Luyến (Hà Nội, 2018).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nhu cầu là khía cạnh tâm lý quan trọng, là động lực thúc đẩy hoạt động và là nguồn gốc tính tích cực của con người. Nhu cầu tự khẳng định là nhu cầu bậc cao trong hệ thống các nhu cầu. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, sự gia tăng của các khủng hoảng tâm lý thúc đẩy cá nhân tìm kiếm lời giải đáp cho vị trí và giá trị của bản thân trong cộng đồng.

Sinh viên là lực lượng xã hội đang trong giai đoạn chuẩn bị kiến thức và kinh nghiệm nghề nghiệp, tham gia đồng thời vào các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, giao tiếp, hoạt động xã hội và kiếm sống. Sự hình thành nhu cầu tự khẳng định giúp sinh viên xác định mục tiêu và nỗ lực phấn đấu. Tuy nhiên, bên cạnh các biểu hiện tích cực, sinh viên còn tự khẳng định mình qua các hoạt động thiếu lành mạnh như nghiện trò chơi trực tuyến, cờ bạc, lô đề, sử dụng rượu bia hoặc tiêu xài đồ hiệu nhằm giải tỏa áp lực, bù đắp thất bại tâm lý hoặc thể hiện sự khác biệt. Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về nhu cầu tự khẳng định trên đối tượng sinh viên còn hạn chế và chưa được phân tích toàn diện trong bối cảnh văn hóa Á Đông.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng nhu cầu tự khẳng định của sinh viên, sử dụng một số biện pháp tác động sư phạm (tổ chức hoạt động nhóm, câu lạc bộ, tham vấn tâm lý cá nhân) nhằm đề xuất các kiến nghị kích thích nhu cầu tự khẳng định của sinh viên.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua 4 nội dung:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về nhu cầu tự khẳng định của sinh viên trong và ngoài nước.
  2. Xây dựng cơ sở lý luận về nhu cầu tự khẳng định của sinh viên, bao gồm hệ thống khái niệm, các biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng.
  3. Khảo sát, làm rõ thực trạng mức độ nhu cầu tự khẳng định và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu này ở sinh viên tại một số trường đại học tại Hà Nội.
  4. Tiến hành tham vấn tâm lý thông qua 02 trường hợp điển hình nhằm kích thích nhu cầu tự khẳng định.

Giả thuyết khoa học

Luận án xây dựng 3 giả thuyết khoa học:

  • Giả thuyết 4.1: Nhu cầu tự khẳng định của sinh viên biểu hiện ở nhiều chiều cạnh, trong đó nổi bật là nhu cầu được công nhận mình và nhu cầu được thể hiện mình. Các biểu hiện này có mối quan hệ với nhau và mức độ biểu hiện nhu cầu được thể hiện mình đạt mức cao hơn so với nhu cầu được công nhận mình.
  • Giả thuyết 4.2: Nhu cầu tự khẳng định của sinh viên chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan (năng lực học tập, niềm tin, quyết tâm) và các yếu tố khách quan (gia đình, nhà trường – nhóm bạn); các yếu tố này có tương quan thuận với nhu cầu tự khẳng định, trong đó niềm tin là yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc nhất.
  • Giả thuyết 4.3: Có thể kích thích nhu cầu tự khẳng định của sinh viên bằng biện pháp tham vấn tâm lý thông qua nghiên cứu 02 trường hợp điển hình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện và mức độ nhu cầu tự khẳng định của sinh viên.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào 02 biểu hiện cấu thành (nhu cầu được công nhận mình và nhu cầu được thể hiện mình) cùng 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng: nhóm chủ quan (năng lực học tập, niềm tin, quyết tâm) và nhóm khách quan (gia đình, nhà trường – nhóm bạn).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại 03 cơ sở đào tạo tại Hà Nội gồm Khoa Quốc tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải.
  • Khách thể nghiên cứu: Khảo sát định lượng trên 422 sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ tư; phỏng vấn sâu 15 sinh viên và 6 giảng viên; nghiên cứu trường hợp và tham vấn tâm lý trên 02 sinh viên thuộc Khoa Quốc tế (Đại học Quốc gia Hà Nội).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu ở nước ngoài

Luận án tổng quan các công trình quốc tế theo các nhóm tiếp cận chính:

Về vấn đề tự khẳng định và nhu cầu cái tôi, luận án điểm lại các quan điểm:

  • Nghiên cứu về cái tôi: Ellsworth Faris (2000), W. H. Colley (2000), W. James về "cái tôi cốt lõi"; Freud về cấu trúc "Cái ấy - Cái tôi - Cái siêu tôi"; C. Rogers về tự ý thức; Bandura về sự tự đánh giá và kỳ vọng hiệu quả.
  • Nghiên cứu xuyên văn hóa: Cynthia Fan và Wally Kanirlowier (2001) so sánh quan niệm thành đạt của nữ nhập cư Trung Quốc tại Úc và phụ nữ Úc sang Anh; cuộc khảo sát năm 2003 tại 65 quốc gia về chỉ số hạnh phúc và sự tự khẳng định của người Mỹ; nghiên cứu so sánh năm 2003 trên 652 sinh viên Thụy Điển và 654 sinh viên Thổ Nhĩ Kỳ về khả năng tự quyết đoán bản thân.
  • Kỹ năng và bí quyết tự khẳng định: Thony Robbins (1994), David J. Schwartz nghiên cứu vai trò của tư duy tích cực, niềm tin bản thân và việc xóa bỏ mặc cảm thất bại. Bên cạnh đó, Lange và Jakubowski (1976), Auerbach (1990), McClelland D., L. Bockern (1990), J. Rousseau cũng được dẫn chứng về tính độc lập và bảo vệ quyền cá nhân.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu lý luận và thực trạng nhu cầu: Các tác giả giáo trình Tâm lý học đại cương tiếp cận nhu cầu từ lý thuyết hoạt động. Một số công trình thực nghiệm tiêu biểu gồm: Hoàng Thị Thu Hà (2003) nghiên cứu nhu cầu học tập của sinh viên sư phạm; Đỗ Hạnh Nga (2005) về nhu cầu độc lập của học sinh THCS; Lã Thị Thu Thủy (2006) về nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của trí thức trẻ; Hoàng Trần Doãn (2006) về nhu cầu điện ảnh của sinh viên; Nguyễn Thị Hồng Nga (2006), Lê Thu Trang (2012), Phạm Văn Tư (2014), Phạm Thanh Bình (2014) về nhu cầu tham vấn tâm lý; Tô Hạnh cùng cộng sự (2014) về nhu cầu giải trí của thanh niên dân tộc thiểu số Tây Nam Bộ.
  • Nghiên cứu về tự khẳng định: Mai Phương (2003) khảo sát kỹ năng tự khẳng định của trẻ mẫu giáo lớn trong giao tiếp ngôn ngữ; Lê Phương Tuệ (2005) nghiên cứu nhu cầu tự khẳng định của trẻ mẫu giáo qua trò chơi đóng vai theo chủ đề. Về thực trạng tiêu cực, luận án dẫn số liệu thống kê năm 2015 của Bộ Y tế và Viện Chiến lược và Chính sách Y tế về tỷ lệ thanh thiếu niên chơi game trực tuyến và sử dụng rượu bia sớm để thể hiện bản thân.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các nghiên cứu trong nước về nhu cầu tự khẳng định trên khách thể sinh viên đại học còn thiếu vắng. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xác lập cấu trúc biểu hiện nhu cầu tự khẳng định của sinh viên Việt Nam, đo lường thực trạng biểu hiện trong cả hoạt động lành mạnh và thiếu lành mạnh, xác định mức độ tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan, đồng thời thử nghiệm biện pháp tham vấn tâm lý hỗ trợ sinh viên.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và hệ thống khái niệm

Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm cốt lõi:

  • Nhu cầu: Là sự đòi hỏi tất yếu cần được thỏa mãn để con người tồn tại và phát triển. Luận án xác định 7 đặc điểm của nhu cầu: tính đòi hỏi (bức xúc), tính thúc đẩy (tích cực), tính thỏa mãn (hài lòng), tính đối tượng, tính xã hội, tính điều kiện và tính chu kỳ. Mức độ nhu cầu được phân chia thành 5 thang bậc: rất cao, cao, trung bình, thấp, rất thấp.
  • Tự khẳng định: Là sự thể hiện mạnh mẽ, tích cực của cá nhân về việc mong muốn được người khác công nhận mình và được thể hiện mình.
  • Nhu cầu tự khẳng định của sinh viên: Là sự đòi hỏi tích cực, mạnh mẽ của sinh viên cần thỏa mãn về việc mong muốn được công nhận mình và được thể hiện mình trước người khác.

Khung cấu trúc nhu cầu tự khẳng định của sinh viên gồm 2 mặt biểu hiện chính gắn với 3 lĩnh vực hoạt động (học tập, giao tiếp, hoạt động đoàn thể - xã hội):

Mặt biểu hiện Thành tố cấu thành cụ thể Lĩnh vực hoạt động thể hiện
1. Nhu cầu được công nhận mình - Nhu cầu được công nhận năng lực
- Nhu cầu được yêu thương
- Nhu cầu được tôn trọng
- Hoạt động học tập
- Hoạt động giao tiếp
- Hoạt động đoàn thể, xã hội
2. Nhu cầu được thể hiện mình - Nhu cầu được thể hiện năng lực
- Nhu cầu được thể hiện sáng tạo
- Nhu cầu được thể hiện quyết định
- Hoạt động học tập
- Hoạt động giao tiếp
- Hoạt động đoàn thể, xã hội

Hệ thống các yếu tố ảnh hưởng được phân thành 2 nhóm:

  • Nhóm yếu tố chủ quan: Năng lực học tập, niềm tin, quyết tâm của sinh viên.
  • Nhóm yếu tố khách quan: Môi trường gia đình, môi trường nhà trường – nhóm bạn.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án quán triệt 3 nguyên tắc phương pháp luận của tâm lý học:

  1. Nguyên tắc hoạt động: Nghiên cứu nhu cầu thông qua các hoạt động thực tiễn (học tập, giao tiếp, hoạt động xã hội).
  2. Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Xem xét nhu cầu tự khẳng định trong mối quan hệ đa chiều giữa các thuộc tính tâm lý cá nhân và các tác động môi trường.
  3. Nguyên tắc phát triển: Đánh giá nhu cầu trong sự biến đổi theo tiến trình rèn luyện, nhận thức và hoàn cảnh xã hội.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp các công trình lý luận và thực nghiệm liên quan.
  2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng bộ câu hỏi khảo sát trên 422 sinh viên để đo lường mức độ biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng.
  3. Phương pháp quan sát: Ghi nhận hành vi biểu hiện của sinh viên trong các hoạt động học tập và sinh hoạt đoàn thể.
  4. Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện trên 15 sinh viên và 6 giảng viên tại 3 trường khảo sát nhằm thu thập cứ liệu định tính.
  5. Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà tâm lý học và giáo dục học để hoàn thiện bảng hỏi và khung lý luận.
  6. Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Khảo sát sâu hồ sơ tâm lý của 02 sinh viên.
  7. Phương pháp tham vấn tâm lý: Tiến hành các buổi làm việc can thiệp tâm lý trực tiếp với 02 trường hợp điển hình.
  8. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu khảo sát bằng phần mềm chuyên dụng (tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định sai biệt giá trị trung bình, kiểm định tương quan, phân tích nhân tố và phân tích hồi quy đa biến).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu nhu cầu tự khẳng định của sinh viên

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu nhu cầu và nhu cầu tự khẳng định. Tác giả phân tích các trường phái tâm lý học hành vi (Watson, Skinner), phân tâm học (Freud), tâm lý học nhân văn (Rogers, Maslow) và tâm lý học hoạt động (Uznatze, Leonchiev, Miaxisep). Tác giả chỉ ra rằng tâm lý học hoạt động cung cấp cơ sở biện chứng vững chắc nhất khi khẳng định nhu cầu gắn liền với hoạt động và đối tượng hóa trong hoạt động.

Chương này cũng tổng hợp các nghiên cứu xuyên văn hóa và các công trình trong nước về nhu cầu độc lập, nhu cầu thành đạt và nhu cầu tham vấn. Tác giả nhấn mạnh thực trạng sinh viên tìm kiếm sự tự khẳng định lệch lạc qua game online, cờ bạc và rượu bia do chịu áp lực học tập, thiếu sân chơi lành mạnh và sự thiếu thấu hiểu từ gia đình, qua đó khẳng định tính cấp thiết của đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu về nhu cầu tự khẳng định của sinh viên

Chương 2 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm và khung lý thuyết:

  • Xác định bản chất nhu cầu qua 7 đặc điểm và thang đo 5 mức độ phát triển.
  • Phân tích khái niệm sinh viên dưới góc độ tâm lý học phát triển: tầng lớp xã hội đặc thù, chuẩn bị bước vào lao động nghề nghiệp.
  • Làm rõ 3 hoạt động cơ bản của sinh viên:
    • Hoạt động học tập: Mang tính chuyên nghiệp, tính độc lập và sáng tạo cao theo phương thức đào tạo học chế tín chỉ (kế thừa quan điểm của Ackhanghenxki và Nhizamov).
    • Hoạt động giao tiếp: Phân tích theo nhu cầu, đối tượng và nội dung giao tiếp phong phú (kế thừa quan điểm của Hoàng Thị Anh và Leonchiev).
    • Hoạt động đoàn thể – xã hội: Thể hiện qua phong trào tình nguyện, câu lạc bộ, khát vọng được tập thể công nhận năng lực và mong muốn nhận được sự quan tâm (kế thừa nghiên cứu của Nhạc Phan Linh).
  • Xác lập 2 thành tố biểu hiện cấu thành nhu cầu tự khẳng định (nhu cầu được công nhận mình và nhu cầu được thể hiện mình) cùng các yếu tố chủ quan, khách quan chi phối.

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày quy trình triển khai nghiên cứu thực tiễn:

  • Mô tả đặc điểm địa bàn nghiên cứu: Khoa Quốc tế (ĐHQGHN), Trường ĐH KHXH&NV (ĐHQGHN) và Trường ĐH Công nghệ Giao thông Vận tải. Ba cơ sở đại diện cho các khối ngành đào tạo quốc tế, khoa học xã hội nhân văn và kỹ thuật công nghệ.
  • Phân bổ khách thể nghiên cứu:
Địa bàn khảo sát Khách thể định lượng (Bảng hỏi) Khách thể phỏng vấn sâu (SV) Khách thể phỏng vấn sâu (GV) Khách thể tham vấn tâm lý
Khoa Quốc tế - ĐHQGHN Sinh viên năm 1 - 4 05 SV 02 GV 02 SV
Trường ĐH KHXH&NV - ĐHQGHN Sinh viên năm 1 - 4 05 SV 02 GV 00 SV
Trường ĐH Công nghệ GTVT Sinh viên năm 1 - 4 05 SV 02 GV 00 SV
Tổng cộng 422 SV 15 SV 06 GV 02 SV
  • Trình bày cấu trúc bảng hỏi đo lường 2 nhóm biểu hiện (được công nhận mình và được thể hiện mình) cùng hệ thống câu hỏi phỏng vấn sâu, tiêu chí đánh giá và các thuật toán thống kê (so sánh ĐTB, phân tích nhân tố, hồi quy đa biến).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về nhu cầu tự khẳng định của sinh viên

Chương 4 công bố và thảo luận các kết quả xử lý dữ liệu:

  • Mức độ chung: Thực trạng chung về mức độ nhu cầu tự khẳng định của sinh viên đạt ở mức trung bình. Mức độ từng mặt biểu hiện (nhu cầu được công nhận năng lực, được yêu thương, được tôn trọng, được thể hiện năng lực, được thể hiện sáng tạo, được thể hiện quyết định) trong học tập, giao tiếp và hoạt động xã hội cũng phân bố ở mức trung bình.
  • So sánh theo biến độc lập:
    • Giới tính: Sinh viên nam có nhu cầu tự khẳng định trong cả hoạt động lành mạnh và hoạt động thiếu lành mạnh cao hơn sinh viên nữ.
    • Ngành học: Sinh viên các ngành kinh tế, kế toán có mức độ nhu cầu tự khẳng định cao hơn sinh viên khối ngành khoa học nhân văn và kỹ thuật.
    • Năm học: Sinh viên năm thứ ba và thứ tư có điểm trung bình nhu cầu tự khẳng định cao hơn sinh viên năm thứ nhất và thứ hai.
  • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng: Kết quả phân tích nhân tố và hồi quy đa biến xác định các yếu tố khách quan (gia đình, nhà trường – nhóm bạn) có ảnh hưởng mạnh nhất đến nhu cầu tự khẳng định của sinh viên; trong nhóm yếu tố chủ quan, niềm tin là yếu tố có tác động sâu sắc nhất.
  • Biện pháp tác động và phân tích trường hợp: Luận án kiểm chứng tác động của việc tổ chức hoạt động nhóm, câu lạc bộ và tiến hành tham vấn tâm lý cá nhân trên 02 trường hợp sinh viên tại Khoa Quốc tế. Kết quả phân tích trường hợp khẳng định sự can thiệp tâm lý giúp đối tượng giải tỏa vướng mắc, củng cố niềm tin và nâng cao mức độ tự khẳng định tích cực.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Xây dựng và chuẩn hóa khái niệm "Nhu cầu tự khẳng định của sinh viên" trong hệ thống lý luận tâm lý học chuyên ngành tại Việt Nam.
  2. Xác định cấu trúc tâm lý của nhu cầu tự khẳng định gồm 02 biểu hiện cơ bản: (1) Nhu cầu được công nhận mình; (2) Nhu cầu được thể hiện mình, gắn kết trong 3 lĩnh vực hoạt động (học tập, giao tiếp, hoạt động xã hội).
  3. Xác lập hệ thống tiêu chí, thang đo mức độ và mô hình các yếu tố chủ quan (năng lực, niềm tin, quyết tâm), khách quan (gia đình, nhà trường – nhóm bạn) tác động đến nhu cầu tự khẳng định của sinh viên.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Xây dựng và kiểm định thành công bộ công cụ khảo sát thực chứng đo lường mức độ và các mặt biểu hiện nhu cầu tự khẳng định của sinh viên đại học.
  2. Cung cấp bức tranh thực trạng về mức độ nhu cầu tự khẳng định của sinh viên ở mức trung bình; chỉ ra sự sai biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm khách thể theo giới tính, năm học và khối ngành đào tạo.
  3. Chứng minh vai trò chi phối nổi bật của yếu tố gia đình, nhà trường – nhóm bạn và yếu tố niềm tin cá nhân đối với mức độ tự khẳng định.
  4. Chứng minh tính khả thi và hiệu quả của kỹ thuật tham vấn tâm lý cá nhân trong việc hỗ trợ sinh viên nhận thức bản thân và kích thích nhu cầu tự khẳng định lành mạnh qua 02 trường hợp can thiệp thực tế.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với gia đình và nhà trường: Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường; cha mẹ cần tăng cường sự thấu hiểu, khích lệ và tạo điều kiện cho con cái thể hiện bản thân thay vì cấm đoán cực đoan.
  • Đối với công tác quản lý sinh viên: Chú trọng định hướng sinh viên nam tham gia các hoạt động xã hội lành mạnh để giảm thiểu nguy cơ tự khẳng định qua hành vi lệch chuẩn; có biện pháp hỗ trợ, lôi cuốn sinh viên nữ, sinh viên khối ngành nhân văn, kỹ thuật và sinh viên năm đầu (năm 1, năm 2) tham gia tích cực vào các câu lạc bộ, hoạt động nhóm và phong trào đoàn thể.
  • Đối với công tác tư vấn: Xây dựng và duy trì mô hình phòng tham vấn tâm lý học đường tại các trường đại học nhằm phát hiện và trợ giúp kịp thời các trường hợp sinh viên gặp khủng hoảng tâm lý hoặc khó khăn trong việc khẳng định bản thân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Về phạm vi địa bàn, nghiên cứu định lượng thực hiện trên mẫu 422 sinh viên thuộc 03 cơ sở đào tạo tại khu vực Hà Nội, chưa bao quát sinh viên ở các vùng miền khác trên cả nước.
    • Về nội dung, luận án tập trung khảo sát 02 biểu hiện cơ bản và một số yếu tố chủ quan, khách quan chọn lọc; chưa đi sâu vào toàn bộ các yếu tố tâm lý – xã hội phức tạp khác tác động đến sinh viên.
    • Về thực nghiệm tác động, biện pháp tham vấn tâm lý chuyên sâu mới dừng lại ở quy mô thử nghiệm trên 02 trường hợp điển hình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quy mô khảo sát trên nhiều trường đại học thuộc các khu vực địa lý khác nhau để tăng tính đại diện quốc gia.
    • Mở rộng nghiên cứu sâu hơn về cơ chế chuyển hóa giữa tự khẳng định lành mạnh và tự khẳng định tiêu cực.
    • Triển khai thực nghiệm mô hình tham vấn tâm lý và chương trình can thiệp giáo dục kỹ năng tự khẳng định trên diện rộng cho sinh viên.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và nhà nghiên cứu tâm lý học: Cung cấp khung lý luận hoàn chỉnh, hệ thống thao tác hóa khái niệm và bộ công cụ bảng hỏi chuẩn hóa về nhu cầu tự khẳng định để kế thừa, phát triển trong các công trình nghiên cứu tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học sư phạm và tâm lý học xã hội.
  • Đối với giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học: Cung cấp dữ liệu thực chứng về đặc điểm tâm lý sinh viên theo từng năm học, giới tính và ngành học; làm cơ sở khoa học để đổi mới phương pháp giảng dạy theo tín chỉ, thiết kế chương trình ngoại khóa, câu lạc bộ học thuật và phong trào Đoàn – Hội.
  • Đối với chuyên viên tham vấn tâm lý và công tác xã hội: Cung cấp quy trình và bài học kinh nghiệm can thiệp tham vấn tâm lý cá nhân cho sinh viên gặp rối nhiễu, tự ti hoặc có hành vi khẳng định bản thân lệch chuẩn.

Câu hỏi thường gặp

1. Nhu cầu tự khẳng định của sinh viên theo luận án gồm những mặt biểu hiện nào?

Luận án xác định nhu cầu tự khẳng định của sinh viên cấu thành từ 02 biểu hiện chính: (1) Nhu cầu được công nhận mình (gồm được công nhận năng lực, được yêu thương, được tôn trọng) và (2) Nhu cầu được thể hiện mình (gồm được thể hiện năng lực, được thể hiện sáng tạo, được thể hiện quyết định). Cả hai nhóm biểu hiện này được khảo sát qua 3 môi trường hoạt động: học tập, giao tiếp và hoạt động đoàn thể – xã hội.

2. Thực trạng mức độ nhu cầu tự khẳng định của sinh viên đạt ở mức nào?

Kết quả khảo sát thực tiễn trên 422 sinh viên cho thấy mức độ nhu cầu tự khẳng định chung của sinh viên đạt ở mức trung bình. Các mặt biểu hiện thành phần cũng đều đạt ở mức trung bình.

3. Sự khác biệt về nhu cầu tự khẳng định theo các biến nhân khẩu học được ghi nhận ra sao?

Sinh viên nam có nhu cầu tự khẳng định trong cả hoạt động lành mạnh và thiếu lành mạnh cao hơn sinh viên nữ. Sinh viên khối ngành kinh tế, kế toán có mức độ nhu cầu tự khẳng định cao hơn sinh viên khối ngành nhân văn và kỹ thuật. Sinh viên năm thứ ba và thứ tư có mức độ nhu cầu tự khẳng định cao hơn sinh viên năm thứ nhất và thứ hai.

4. Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến nhu cầu tự khẳng định của sinh viên?

Kết quả phân tích nhân tố và hồi quy đa biến chỉ ra rằng nhóm yếu tố khách quan gồm gia đình, nhà trường – nhóm bạn là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến nhu cầu tự khẳng định của sinh viên. Trong nhóm yếu tố chủ quan, niềm tin là yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc nhất.

5. Phương pháp tham vấn tâm lý được luận án thực hiện trên khách thể nào và đạt kết quả gì?

Phương pháp tham vấn tâm lý được tác giả tiến hành trên 02 trường hợp sinh viên điển hình tại Khoa Quốc tế (Đại học Quốc gia Hà Nội). Biện pháp này đã chứng minh tính hiệu quả và khả thi khi giúp sinh viên tháo gỡ vướng mắc nhận thức, củng cố niềm tin bản thân và kích thích nhu cầu tự khẳng định theo hướng tích cực.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Nhu cầu tự khẳng định của sinh viên" của tác giả Nguyễn Thị Thủy đã giải quyết đồng bộ các vấn đề lý luận và thực tiễn về nhu cầu tự khẳng định của sinh viên đại học trong bối cảnh giáo dục Việt Nam. Bằng việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu định lượng trên 422 sinh viên và nghiên cứu định tính, tham vấn tâm lý trên các trường hợp điển hình, công trình đã làm rõ cấu trúc 2 mặt biểu hiện của nhu cầu tự khẳng định cùng thực trạng đạt mức trung bình của khách thể. Luận án khẳng định vai trò quyết định của môi trường gia đình, nhà trường, nhóm bạn và niềm tin cá nhân trong việc định hình nhu cầu này. Các phát hiện và đề xuất sư phạm của luận án cung cấp cơ sở khoa học cho công tác giáo dục, quản lý và tham vấn tâm lý học đường tại các cơ sở giáo dục đại học.