CHƯƠNG 1 Trong chương này, nhóm thực hiện nêu lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài, cấu trúc bài nghiên cứu. nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu và khám phá, đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên đang theo học tại HUFI thông qua phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng được sử dụng trong nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức bằng phần mềm SPSS 20. Đồng thời, nhóm thực hiện cũng trình bày ý nghĩa của đề tài nhằm bổ sung cơ sở lý luận về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Công nghiệp thực phẩm TP. Bên cạnh đó, kết quả của mô hình nghiên cứu là nguồn dữ liệu cần thiết giúp nhà trường có thể nắm bắt được các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên, từ đó có thể điều chỉnh chương trình đào tạo và các yếu tố có liên quan sao cho phù hợp, cải thiện kết quả học tập của sinh viên của trường Đại học Công nghiệp thực phẩm TP.
CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm liên quan 2. Khái niệm kết quả học tập Hoạt động học tập của sinh viên là hoạt động chuyên hướng vào chiếm lĩnh tri thức khoa học, kĩ năng kĩ xảo và thái độ tương ứng cũng như những tri thức của chính bản thân hoạt động học (phương pháp học) để tạo ra sự phát triển tâm lý của sinh viên nhằm đáp ứng yêu cầu của một nghề nghiệp trong tương lai (Nguyễn Văn Lượt, 2007). Khái niệm cạnh tranh trong học tập Cạnh tranh các nhân trong quan hệ giữa các sinh viên với nhau trong trường đại học thường mang tính chất cạnh tranh phát triển.
Các sinh viên vừa cạnh tranh và vừa hợp tác với nhau để có thể đạt được thành quả cao nhất trong học tập. Sinh viên có mức độ canh tranh học tập cao họ thường sử dụng canh tranh như là đòn bẩy để tự phát triển khả năng mình. Những sinh viên này quan niệm là cá nhân họ không thể tách rời khỏi những sinh viên khác trong lớp, họ luôn hợp tác với các thành viên khác trong lớp 2. Khái niệm chương trình đào tạo Chương trình đào tạo là một bản thiết kế cho một hoạt động đào tạo cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo được hiểu là: ‘Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tuện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của sở giáo dục và đào tạo’.
Khái niệm về động cơ học tâp Động cơ học tập là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động học tập và tự học của người học. Động cơ học tập không có sẵn, cũng không thể áp đặt mà được hình thành dần dần trong quá trình người học đi sâu chiếm lĩnh đối tượng học tập. Từ nhu cầu với các đối tuượng học tập, từ những yếu tố bên ngoài mà hình thành nên động cơ thúc đẩy hoạt động học tập của ngsười học. Khái niệm về gia đình Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng hoặc quan hệ giáo dục 2.
Khái niệm về chất lượng giảng viên Chất lượng giảng dạy của giảng viên được xem là một trong những nhân tố cấu thành nên chất lượng giáo dục chung của một trường đại học bởi việc giảng dạy của giảng viên có tác động xuyên suốt đến hoạt động học tập của sinh viên tại trường. Theo Gumey, nội dung giảng dạy, phong cách giảng dạy và các phương pháp giảng dạy đóng vai trò quan trọng để tạo nên chất lượng giảng dạy, đáp ứng được tối đa các yêu cầu của sinh viên. Khái niệm phương pháp hoc tập Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách xử lý thông tin lấy từ môi trường sống xung quanh mình. Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định trong nhận thức, trong thực tiễn Nhu vậy phương pháp học tập là tổng hợp các cách thức học tập nhằm đạt được mục tiêu nhất định 2.
Khái niệm về cơ sở vật chất Cơ sở vât chất là tất cả các phương tiện vật chất được huy động vào việc giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính giáo dục khác để đạt được mục đích hệ thống giáo dục là mọt hệ thống đa dạng về chủng loại và có một số bộ phận tương đối phức tạp về mặt kỹ thuật 2. Khái niệm việc làm thêm Việc làm thêm đối với sinh viên có ý nghĩa tham gia việc làm ngay khi vẫn còn đang học ở trường tại các công ty, các tổ chức, các đơn vị, các hộ gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm, không làm ảnh hưởng nhiều đến học tập… với mục đích có thêm thu nhập hoặc mục tiêu học hỏi, tích luý kinh nghiệm, cọ sát hơn với thực tế cuộc sống. Khái niệm phương pháp giảng dạy Là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp của người dạy và người học, trong đó phương pháp dạy chỉ đạo phương pháp học nhằm giúp người học chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo thực hành sáng tạo. Khái niệm môi trường học tập Môi trường học tập là toàn bộ các yếu tố vật chất, không gian và thời gian, tình cảm và tinh thần – nơi học sinh đang sinh sống, lao động và học tập, có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến sự hình thành nhân cách của học sinh phù hợp với mục đích giáo dục.
Khái niệm điều kiện học tập Điều kiện học tập có nghĩa thông qua sự tiếp nhận các tác nhân kích thích và sự phản hồi thích hợp, chúng ta hiểu rằng liên kết hoặc không liên kết. Lý thuyết nền nghiên cứu 2. Những mô hình xác định các yếu tố tác động đến KQHT Xét về mặt tổng thể, có 3 nhóm yếu tố chính tác động đến KQHT của SV. Đó là đặc điểm của người học, điều kiện gia đình và tài nguyên của nhà trường.
Các nghiên cứu tập trung vào khảo sát các yếu tố tác động đến KQHT của SV còn ít. Tuy nhiên, các nghiên cứu này rất đa dạng và mỗi nghiên cứu có mục tiêu và phương pháp nghiên cứu riêng. Sau đây, giới thiệu các mô hình tiêu biểu nghiên cứu về các yếu tố chính tác động đến KQHT của SV. Mô hình ứng dụng của Bratti và Staffolani Theo Bratti và Staffolani (2002), KQHT của SV chủ yếu được xác định bởi thái độ học tập của SV bởi vì sự phân bổ thời gian cho việc học tùy thuộc vào quyết định của họ.
Họ có thể quyết định thời gian tối ưu dành cho việc tự học và học ở lớp. Do đó, KQHT của SV phần lớn phụ thuộc vào thái độ học tập của họ. Gọi Gi là KQHT của SV, phụ thuộc vào thời gian dành cho việc tự học (Si), thời gian học ở lớp (ai) và năng lực của người đó (ei). Mô hình Bratti và Staffolani đưa ra mối quan hệ giữa đặc điểm của SV (thời gian tự học Si, thời gian học ở lớp ai, năng lực của người đó ei) với KQHT (Gi).
Nó cho thấy ở mức độ hữu dụng nhất định, KQHT của SV tùy thuộc vào thời gian tự học, thời gian học ở lớp và năng lực của SV. Theo phương pháp này, giáo dục vừa 21 là sự tiêu dùng vừa là sự đầu tư tốt. Trong khi SV dành thời gian cho giáo dục đại học, thì anh ta cũng tự đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của mình. Trong mô hình Bratt và Staffolani, đặc điểm của SV đóng vai trò chính là yếu tố duy nhất có mối quan hệ trực tiếp đến KQHT của SV.
ðây là ưu điểm của mô hình bởi vì nó nhấn mạnh vai trò quan trọng của yếu tố tự học, điểm khác biệt chính giữa SV đại học và học sinh trung học. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình là xem nhẹ vai trò của các yếu tố bên ngoài mà nó cũng có ảnh hưởng đến KQHT của SV. Mô hình ứng dụng của Checchi et al. Mô hình này được xác định bởi Checchi & ctg (2000) nhằm dự đoán về mối quan hệ giữa đầu tư cho giáo dục của cha mẹ và KQHT của con cái.
Cơ sở của mô hình này là cha mẹ phải dành một phần thu nhập của mình đầu tư vào việc học tập của con cái. Nếu việc đầu tư vào việc học cho con cái tăng lên, tiêu dùng của cha mẹ sẽ giảm đi nhưng thu nhập tương lai của con cái sẽ tăng lên P = P(A,E,S,Yf) Từ phương trình trên cho ta thấy mô hình này chỉ ra rằng cả điều kiện gia đình đại diện là thu nhập của gia đình (Yf), số tiền đầu tư cho giáo dục của người con (S) và đặc điểm của SV đại diện là trí thông minh (A), mức độ cố gắng (E) tác động tích cực đến KQHT của SV. Ứng dụng vào trường hợp SV học đại học, cho dù SV hoàn toàn độc lập và có trách nhiệm về KQHT của họ nhưng nguồn lực gia đình vẫn có ảnh hưởng mạnh lên KQHT của SV. Mô hình ứng dụng của Dickie Dựa vào kết quả nghiên cứu của Dickie (1999) đã xác lập một mô hình nghiên cứu về tác yếu tố tác động đến KQHT như sau: A*= A* (F,S,K,α) Trong đó, đặc trưng gia đình (F), nguồn lực của nhà trường (S), đặc điểm của người học (K) và năng lực cá nhân (α) là các yếu tố tác động đến KQHT của người học.
Điều này có ý nghĩa KQHT của người học là kết quả của mối quan hệ hỗ tương của ba nhóm yếu tố đại diện là gia đình, nhà trường và người học. Đây là mô hình thông dụng nhất vì nó bao hàm ảnh hưởng của ba nhóm yếu tố trên. Ba mô hình được giới thiệu có phạm vi nghiên cứu khác nhau. Trong mô hình Bratti và Staffolani, tác giả chỉ nhấn mạnh ảnh hưởng của đặc điểm SV.
Tiếp đến, mô hình Checchi et al. chỉ ra ảnh hưởng của cả đặc điểm SV và đặc trưng gia đình lên KQHT.