Chương I: Tổng quan về đề tài Chương II: Cơ sở lý luận Chương III: Phương pháp định lượng Chương IV: Kết quả nghiên cứu 6 0 0 Chương V: Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị 7 0 0 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Các khái niệm chính 2.1 Khái niệm kết quả học tập Kết quả học tập (KQHT) là một khái niệm thường được hiểu theo hai quan niệm khác nhau trong thực tế cũng công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu xác định. Đó còn là mức độ thành tích đã đạt của một học sinh so với các bạn học khác. như trong khoa học.
Đó là mức độ thành tích mà một chủ thể học tập đã đạt, được xem xét trong mối quan hệ với KQHT có thể được đo lường thông qua điểm của môn học (Hamer, 2000 - trích dẫn từ Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009, tr. KQHT cũng có thể do SV tự đánh giá về quá trình học tập và kết quả tìm kiếm việc làm (Clarke & ctg, 2001 - trích dẫn từ Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009, tr. Kết quả học tập của sinh viên là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đào tạo, cũng như giá trị của cả quá trình học tập lâu dài của sinh viên.2 Khái niệm biến độc lập và biến phụ thuộc Biến độc lập là biến số tác động tới biến số khác (biến phụ thuộc) trong một mô hình kinh tế. Biến phụ thuộc là biến số chịu ảnh hưởng của một biến số khác trong mô hình.
Ví dụ, nhu cầu về một hàng hoá bị ảnh hưởng bởi giá cả của nó. Thuyết mô hình Marketing 5P 2. Product – Sản phẩm Theo Philip Kotler: “Sản phẩm là tất cả những gì có thể thỏa mãn được nhu cầu hay mong muốn và được chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý, mua sử dụng hay tiêu dùng. Đó có thể là những vật thể hữu hình, dịch vụ, người, mặt bằng, tổ chức và ý tưởng.
8 0 0 Sản phẩm bao gồm 3 cấp độ: cấp độ cơ bản nhất là: sản phẩm cốt lõi/ ý tưởng; sản phẩm hiện thực, sản phẩm bổ xung/hoàn thiện. Bám sát đề tài của nhóm thì sản phẩm ở đây chính là chất lượng của Nhà trường là chương trình đào tạo, chất lượng về cơ sở vật chất của nhà trường, chất lượng về trình độ giảng viên,… 2. Price – Giá Theo học thuyết giá trị, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, đồng thời biểu hiện nhiều mối quan hệ lớn trong nền kinh tế. Giá cả là giá trị của sản phẩm dưới dạng tiền.
Giá cả phù hợp phải làm hài lòng khách hàng, phản ánh giá trị và tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đã cung cấp rằng người tiêu dùng thích các sản phẩm chất lượng cao, giá cả có thể được đặt cao. Mặt khác, với điều kiện là người tiêu dùng thích sản phẩm rẻ thì giá phải định thấp để trở nên hấp dẫn. Giá cả được xem xét trên giác độ của người mua và người bán: Đối với người mua: Giá cả là tổng số tiền phải chi ra để có được quyền sở hữu và quyền sử dụng một lượng hàng hóa nhất định.
Đối với người bán: giá cả là tổng số tiền thu được khi tiêu thụ một lượng hàng hóa nhất định. Đối với dịch vụ đào tạo thì giá ở đây chính là học phí, là khoản tiền mà người học phải nộp để chi trả cho một phần hay toàn bộ chi phí dịch vụ giáo dục, đào tạo. Place – Địa điểm Địa điểm hay còn gọi là nơi phân phối, là nơi chuyển sản phẩm, dịch vụ từ nhà sản xuất, các doanh nghiệp qua các hệ thống trung gian để đưa sản phẩm, dịch vụ đến tay khách hàng. Phân phối sản phẩm có thể xác định phân phối kênh và phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng.
Các kênh phân phối trực tiếp là bán sản phẩm cho người tiêu 9 0 0 dùng trực tiếp. Kênh gián tiếp là bán sản phẩm thông qua những người trung gian như người bán buôn, người bán lẻ và đại diện đại lý. Tuy nhiên, cả hai các kênh có thể được sử dụng cùng một lúc. Trường Đại học công nghiệp Tp.HCM (IUH) là địa bàn lý tưởng cho sinh viên các tỉnh và ngay cả sinh viên thành phố theo học, với lợi thế đa ngành đào tạo và chương trình đào tạo tiên tiến, đội ngũ giảng viên tiềm năng.
Promotion- Chiêu thị Quảng cáo tiếp thị là một hoạt động truyền thông tiếp thị để thông báp hoặc khuyến khích hành vi mua hàng cũng như nhắc nhở người tiêu dùng về các sản phẩm. Tiếp thị quảng cáo có thể được thực hiện bằng cách quảng cáo thông qua phương tiện truyền thông, phương tiện truyền thông được phát sóng ngoài trời và lời truyền miệng, tất cả đều khuyến khích bán hàng. Hoạt động chiêu thị của Nhà trường chính là có các hình thức khen thưởng, khuyến khích học tập, cấp học bổng, giảm học phí và thưởng cho các thành tích hoạt động phong trào hoặc thành tích hoạt động học tập của sinh viên. Để nâng cao tinh thần tự học, đẩy mạnh thành tích của sinh viên trong các khóa học.
People – Con người Con người (các nhà cung cấp dịch vụ) được định nghĩa là mức độ mà một tổ chức dịch vụ là khách hàng định hướng trong thực hành kinh doang của mình; đặt khách hàng là trung tâm của các hoạt động kinh doanh (Drucker, 1968; Zeithaml và cộng sự, 1985; Narver và Slater, 1990; Deshpande` và cộng sự, 1993; Slater và Narver, 1994; Chang và Chen, 1998; Doyle, 1999) Theo đề tài nghiên cứu thì con người ở đây là nhà trường và bản thân SV. Vì vậy khi phân tích các yếu tố ảnh hưởng cũng sẽ dựa trên hai đối tượng chính này. Các lý thuyết về hành vi 2.1 Thuyết hành vi hợp lí (Theory of Reasoned Action - TRA) Mô hình thuyết hành động hợp lí (TRA) do Fishbein và Ajzen xây dựng năm 1975. Thuyết cho rằng ý định hành vi dẫn đến hành vi và ý định được quyết định bởi thái độ cá nhân đối hành vi, cùng sự ảnh hưởng của chuẩn chủ quan xung quanh việc thực hiện các hành vi đó (Fishbein và Ajzen,1975).
Trong đó, Thái độ và Chuẩn chủ quan có tầm quan trọng trong ý định hành vi. Trong mô hình TRA, thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau. Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp).
Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng. Mức độ ảnh hưởng của những người có liên quan đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng và động cơ thúc đẩy người tiêu dùng làm theo những người có liên quan là hai yếu tố cơ bản để đánh giá chuẩn chủ quan.1: Thuyết hành vi hợp lí – TRA Nguồn: Ajzen và Fishbein 1975. Trong mô hình, niềm tin của Người tiêu dùng về sản phẩm hay thương hiệu sẽ ảnh hưởng đến thái độ sau đó tới xu hướng hành vi và tác động đến hành vi tiêu dùng thực sự. Các thành phần trong mô hình TRA: Hành vi là những hành động quan sát được của đối tượng (Fishbein và Ajzen,1975, tr.13) được quyết định bởi ý định hành vi.
Ý định hành vi (Behavioral intention) đo lường khả năng chủ quan của đối tượng sẽ thực hiện một hành vi và có thể được xem như một trường hợp đặc biệt của niềm tin (Fishbein & Ajzen, 1975, tr. Được quyết định bởi thái độ của một cá nhân đối với các hành vi và chuẩn chủ quan. 12 0 0 Nếu kết quả mang lại lợi ích cá nhân, họ có thể có ý định tham gia vào hành vi (Fishbein & Ajzen, 1975, tr. Chuẩn chủ quan (Subjective norms) được định nghĩa là nhận thức của một cá nhân, với những người tham khảo quan trọng của cá nhân đó cho rằng hành vi nên hay không nên được thực hiện (Fishbein & Ajzen, 1975).
Ưu điểm: Mô hình TRA giống như mô hình thái độ ba thành phần nhưng mô hình này phối hợp 3 thành phần: nhận thức, cảm xúc và thành phần xu hướng được sắp xếp theo thứ tự khác với mô hình thái độ ba thành phần. Phương cách đo lường thái độ trong mô hình TRA cũng giống như mô hình thái độ đa thuộc tính. Tuy nhiên mô hình TRA giải thích chi tiết hơn mô hình đa thuộc tính vì thêm thành phần chuẩn chủ quan. Nhược điểm: Thuyết hành động hợp lý TRA bị giới hạn khi dự đoán việc thực hiện các hành vi của người tiêu dùng mà họ không thể kiểm soát được bởi vì mô hình này bỏ qua tầm quan trọng của yếu tố xã hội mà trong mà trong thực tế có thể là một yếu tố quyết định đối với hành vi cá nhân (Grandon & Peter P.2 Thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) Theo thuyết hành vi có kế hoạch (dự định) của Ajzen (1991), tác giả cho rằng ý định thực hiện hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố như thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi.
Nhân tố trung tâm trong thuyết hành vi dự định là ý định của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi nhất định. Ý định được cho là nhân tố động cơ dẫn đến hành vi, nó là chỉ báo cho việc con người sẽ cố gắng đến mức nào, hay dự định sẽ dành bao nhiêu nỗ lực vào việc thực hiện một hành vi cụ thể. Như quy luật chung, ý định càng mạnh mẽ thì khả năng được thực hiện càng lớn. Tuy nhiên, việc ý định thực hiện hành vi trở thành hành vi thực chỉ được nhìn thấy trong những hành vi nằm hoàn toàn dưới sự kiểm soát cuat lý chí (ví dụ cá nhân quyết định thực hiện hay không thực hiện hành vi 13 0 0 đó bằng lý chí).
Trong thực tế, có những hành vi thỏa mãn điều kiện này, tuy nhiên việc thực hiện hầu hết các hành vi dù ít hay nhiều đều phụ thuộc vào những nhân tố cản trở như sự sẵn có của những nguồn nhân lực hay những cơ hội cần thiết (ví dụ như tiền bạc, thời gian, khả năng, sự hợp tác của những người khác…) Những nhân tố này đại diện cho sự kiểm soát hành vi trong thực tế của cá nhân.