Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản về bệnh Lao 1. Bệnh lao là gì? Bệnh lao là một bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn lao (Mycobacteterium Tuberculosis) gây nên. Vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường hô hấp do hít phải những hạt nhỏ trong không khí có chứa vi khuẩn lao.
Từ những tổn thương ban đầu, vi khuẩn lao qua đường máu, bạch huyết, đường phế quản hoặc đường tiếp cận có thể đến gây bệnh ở nhiều cơ quan khác trong cơ thể. Bệnh lao có thể gặp ở tất cả các bộ phận trong cơ thể, trong đó lao phổi là thể bệnh phổ biến nhất (chiếm khoảng 80-85%) các thể bệnh lao và cũng là nguồn lây chủ yếu trong cộng đồng[5]. Vi khuẩn lao Vi khuẩn lao do Bác sỹ người Đức Heinrich Hermann Robert Koch (1843- 1910) tìm ra năm 1882, vì vậy còn được gọi là Bacille de Koch (viết tắt là BK). Vi khuẩn lao thuộc họ Mycobacteriaccae, là trực khuẩn kháng acid (acid-fast bacille viết tắt là AFB).
Ở điều kiện tự nhiên, vi khuẩn lao có thể tồn tại 3-4 tháng, trong phòng thí nghiệm người ta có thể bảo quản vi khuẩn trong nhiều năm, dưới ánh sáng mặt trời, vi khuẩn bị chết sau 1,5 giờ. Khi chiếu tia cực tím chúng chỉ tồn tại được 2-3 phút. Ở 42°c vi khuẩn ngừng phát triển và chết sau 10 phút ở 80°C. Đờm cùa người bệnh lao phổi AFB (+) để trong phòng tối, ẩm sau 3 tháng vi khuẩn vẫn tôn tại và giữ được độc lực, nhưng khi đun đờm trong 5 phút chúng sẽ bị chết, với cồn 90°C vi khuẩn tồn tại được 3 phút, trong acid phenic 5% vi khuẩn chết sau 1 phút [17].
Như vậy vi khuẩn lao tồn tại lâu được trong môi trường ẩm thấp thiếu ánh sáng, đây chính là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển và cũng là môi trường thường gặp ở những nơi có điều kiện sống khó khăn, các nước nghèo, kinh tế đang phát triển. Phân loại bệnh Lao Bệnh lao diễn biến qua hai giai đoạn: nhiễm lao và bệnh lao. Nhiễm vi khuẩn lao là giai đoạn đầu tiên và hầu hết (90-95%) các trường hợp nhiễm vi khuẩn lao tiềm ẩn không biểu hiện triệu chứng, chi có 5-10% người nhiễm lao sẽ tiến triển thành bệnh lao khi gặp điều kiện thuận lợi. Có nhiều cách phân loại bệnh trong đó có 2 cách phân loại thường được sừ dụng, bao gồm: ỉ.
Phân loại theo vị trí ton thương Gồm lao phổi và lao ngoài phổi. - Lao phổi gồm: lao phổi AFB (+) và lao phổi AFB (-) - Lao ngoài phổi gồm các thể: lao màng phổi, lao màng não, lao xương khớp, lao hạch, lao sinh dục tiết niệu,. Phản loại theo tiền sử dùng thuốc lao - Bệnh nhãn lao mới: chưa bao giờ dùng thuốc lao hoặc mới dùng thuốc lao dưới 1 tháng. - Bệnh nhân lao tái phát: đã được điều trị lao và được xác định là khỏi bệnh, nay mắc bệnh trở lại, xét nghiệm đờm AFB (+).
- Bệnh nhăn lao thất bại: xét nghiệm đờm vẫn còn dương tính sau khi điều trị từ tháng thứ 5 trở đi. - Bệnh nhân điều trị lại sau bò trị: bệnh nhân không dùng thuốc trên 2 tháng trong quá trình điều trị, sau đó quay lại điều trị với AFB (+) trong đờm. - Bệnh nhân mạn tính: bệnh nhân vẫn còn vi trùng lao trong đờm sau khi đã dùng công thức tái trị có giám sát chặt chẽ việc dùng thuốc. - Bệnh nhân lao khác: + Lao phổi AFB(+) khác: là bệnh nhân đã điều trị thuốc lao trước đây nhưng không xác định được phác đồ và kết quà điều trị, nay chẩn đoán là lao phổi AFB(+).
+ Lao phổi AFB(-) và lao ngoài phổi khác: là bệnh nhân đã điều trị thuốc lao trước đây, nay chẩn đoán lao phổi AFB(-) hoặc lao ngoài phổi[5]. Tình hình bệnh lao trên thế giói và Việt Nam 1. Tình hình bệnh lao trên thế giới 6 Bệnh lao gắn liền với xã hội loài người đã hàng ngàn năm, trên thế giới chưa bao giờ và không có một quốc gia nào, một khu vực nào, một dân tộc nào không có bệnh lao và người chết do lao; bệnh lao là một vấn đề nghiêm trọng bởi mức độ lưu hành và số lượng người mắc, từ vong do lao là một trong những nguyên nhân từ vong cao nhất từ các bệnh truyền nhiễm, bệnh lao là gánh nặng kinh tế và xã hội trên toàn cầu, nhất là tại những nước có mức độ lưu hành cao[5]. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 2,2 tỷ người đã nhiễm lao (chiếm 1/3 dân số thế giới).
Theo số liệu công bố cùa WHO năm 2009 trên thế giới có khoảng 9,2 triệu người mắc lao mới và 1,7 triệu người từ vong do lao. Khoảng 95% số bệnh nhân lao và 98% số người tử vong do lao ở các nước có thu nhập vừa và thấp, 75% số bệnh nhân ở độ tuổi lao động. Trong đó có khoảng 80% số bệnh nhân lao toàn cầu thuộc 22 nước có gánh nặng bệnh lao cao[24]. Hiện tại mục tiêu ưu tiên hàng đầu của hoạt động phòng chống lao trên toàn thế giới vẫn nhàm vào việc tăng cường tỷ lệ phát hiện, chẩn đoán và điều trị cho đối tượng bệnh nhân lao phổi mới mắc được chẩn đoán là AFB(+) và tỷ lệ điều trị thành công cho nhóm đối tượng này[5].
Thực hiện thành công mục tiêu này sẽ góp phần quan trọng trong kiểm soát tình trạng lây nhiễm lao cũng như giảm nhẹ tình trạng bệnh lao đa kháng thuốc. Bệnh lao trong những năm gần đây không những không giảm mà còn phát triển với tốc độ rất nhanh, không chỉ ở các nước kinh tế chậm phát triển mà cả ờ các nước công nghiệp tiên tiến. WHO đã báo động về sự quay trở lại của bệnh lao và tuyên bố bệnh lao là một vấn đề khẩn cấp toàn cầu và mối hiểm họa của nó trong tương lai là bệnh lao kháng thuốc [19]. Mức độ nặng nề của bệnh lao đã ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân và chỉ số phát triển con người của các quốc gia.
Các nghiên cứu về kinh tế y tế cho thấy, mỗi bệnh nhân lao sẽ mất trung bình 3-4 tháng lao động, làm giảm 20-30% thu nhập bình quân của gia đình và làm cho họ càng nghèo hơn. Những gia đình có người chết sớm vì bệnh lao có thể sẽ mất tới 15 năm thu nhập. Bệnh lao đã tác động mạnh tới 70% đối tượng lao động chính của xã hội, làm lực lượng sản xuất bị giảm sút, năng suất lao động giảm và sẽ không tham gia lao động được. Diễn đàn các đối tác 7 chống lao lần thứ nhất diễn ra năm 2001 tại trụ sở của Ngân hàng thế giới ở Washington D.c với sự có mặt của đại diện cấp Bộ trưởng từ các quốc gia có tình hình bệnh lao nặng nề đã nhận định, bệnh lao là nguyên nhân chủ yếu làm nghèo đói dai dẳng và là trở ngại đối với sự phát triển kinh tế xã hội.
Bệnh lao là bệnh của người nghèo, lây lan nhanh trong cộng đồng cỏ điều kiện sống chật chội, thiếu vệ sinh, thông khí và dinh dưỡng kém. Trên 95% số bệnh nhân lao, 98% số chết do lao trên toàn cầu thuộc các nước có thu nhập vừa và thấp, 75% số bệnh nhân bệnh lao ở các lứa tuổi 14-55, là tuổi đang ở độ tuổi lao động làm ra nhiều của cải nhất trong cuộc đời. Người nghèo mắc lao cao horn 2,5 lần so với người không nghèo. Người mắc bệnh không có khả năng lao động, gia đình phải nuôi và chạy chữa từ 3-4 tháng, thu nhập giảm khoảng 30%.
Hơn nữa, nếu mắc lao kháng thuốc, đa kháng thuốc thì việc chạy chữa còn kéo dài và tốn kém rất nhiều tiền cùa bệnh nhân, gia đình và xã hội. Bệnh lao là kết quả của nghèo đói và nghèo đói lại là nguyên nhân làm cho bệnh lao phát triển đó là vòng luẩn quẩn giữa bệnh lao và đói nghèo[10]. Tình hình bệnh lao tại Việt Nam Việt Nam là quốc gia đứng thứ 12 trong sổ 22 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất trên thế giới; bệnh lao ở nước ta có thể xếp vào loại cao ở khu vực Tây Thái Bình Dương, là khu vực có độ lưu hành bệnh lao trung bình trên thế giới. Việt Nam đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Philipines về số lượng bệnh nhân lưu hành cũng như bệnh nhân lao mới xuất hiện hàng năm.
Bệnh lao là một trong 10 nguyên nhân gây từ vong hàng đầu ở cả nam và nữ giới trong cả nước [5]. Theo ước tính của WHO, dựa trên nguy cơ nhiễm lao hàng năm là khoảng 1,7% (năm 1997) thì mỗi năm ờ Việt Nam có 150.000 người mới mắc bệnh, trong đỏ khoảng 65.000 người bị lao phổi khạc ra vi khuẩn lao trong đờm, số người tử vong do lao ước khoảng 20. Như vậy số bệnh nhân lao mới mắc có AFB(+) vào khoảng 77/100.000 dân, tổng số bệnh nhân lao chung các thể 173/100. Kết quả điều trị bệnh nhân mới đạt tỷ lệ khỏi 89,2%; tỳ lệ thất bại là 1,1%; tỳ lệ bỏ trị 1,8%, tỳ lệ bỏ trị và tỳ lệ thất bại còn cao, đây là nguồn lây kháng thuốc nguy hiểm trong cộng đồng nên cần chú trọng hơn trong công tác quản lý điều trị bệnh nhân[l].
8 Phân tích về tuổi bệnh nhân lao trong những năm gần đây cho thấy tỷ lệ lao phổi tăng ở nhóm tuổi trẻ. Hay nói cách khác là bệnh lao ở Việt Nam có xu hướng ngày càng trẻ hóa. Điều này liên quan đến lối sống hoặc nhiễm HIV cùa một số bộ phận thanh thiếu niên bởi vì tỳ lệ nhiễm HIV ở Việt Nam đa số ở những người trẻ nghiện chích ma túy[7]. Bệnh lao kháng thuốc trên thế giói và Việt Nam 1.
Bệnh lao kháng thuốc trên thế giới Năm 1993, WHO thông báo tới các chính phù về sự “quay trở lại” của bệnh lao. Ba năm sau (1996), WHO lại nhấn mạnh là “Bệnh lao chẳng những quay trở lại, thậm chí còn tồi tệ horn". Một trong những điều “tồi tệ” đó là nạn gia tăng của bệnh lao kháng thuốc. Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho biết người bệnh lao phổi có vi khuẩn kháng thuốc đã tăng từ 2% lên 9% trong 3 thập kỷ qua.
Đặc biệt là những bệnh nhân lao có vi khuẩn kháng thuốc vào viện đã tăng từ 13% lên 59% trong khoảng thời gian từ 1982 đến 1991. Riêng ở thành phổ New York (1997) có tới 33% bệnh lao mới có vi khuẩn kháng thuốc, trong đó 19% là lao đa kháng thuốc[10]. Những bệnh nhân lao đa kháng thuốc một tỳ lệ đáng kể có kèm nhiễm HIV/AIDS. Tỷ lệ từ vong ờ những bệnh nhân này rất cao {khoảng 80%).
Một sổ nghiên cứu tại Anh, Pháp, Nga.