CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Bệnh lao: là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) gây nên. Bệnh lao có thể gặp ở tất cả các bộ phận của cơ thể, trong đó lao phổi là thể lao phổ biến nhất (chiếm 80 - 85% tổng số ca bệnh) và là nguồn lây chính cho người xung quanh (13). Lao phổi: là một thể phổ biến nhất của bệnh lao (13), Lao phổi lây nhiễm qua đường hô hấp, do vi khuẩn lao gây ra.
Người lành hít phải không khí có chứa vi khuẩn lao trong quá trình ho, khạc, hắt hơi hoặc nói chuyện với người bị lao phổi trong giai đoạn tiến triển (nguồn lây) (14). Người nghi lao phổi khi có các triệu chứng sau: Ho kéo dài trên 2 tuần (ho khan, ho có đờm, ho ra máu) là triệu chứng nghi lao quan trọng nhất; ngoài ra có thể: Gầy sút, kém ăn, mệt mỏi; Sốt nhẹ về chiều; Ra mồ hôi trộm ban đêm; Đau ngực, đôi khi khó thở (13). Lao kháng thuốc: là tình trạng vi khuẩn lao kháng lại thuốc chống lao và người bị lao kháng thuốc có thể trở thành nguồn lây lan vi khuẩn lao kháng thuốc cho cộng đồng. Điều này làm cho việc điều trị lao trở nên rất khó khăn hơn (15).
Căn cứ vào kết quả kháng sinh đồ hoặc các xét nghiệm chẩn đoán nhanh được WHO chứng thực (Hain test, Xpert MTB/RIF…), tiêu chuẩn chẩn đoán cho các thể bệnh lao kháng thuốc được xác định như sau: - Kháng đơn thuốc: Chỉ kháng với duy nhất một thuốc chống lao hàng một khác Rifampicin - Kháng nhiều thuốc: Kháng với từ hai thuốc chống lao hàng một trở lên mà không kháng với Rifampicin - Lao kháng Rifampicin: Kháng với Rifampicin, có hoặc không kháng thêm với các thuốc lao khác kèm theo (có thể là kháng đơn thuốc, kháng nhiều thuốc, đa kháng thuốc hoặc siêu kháng thuốc). Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, các chủng đã kháng với Rifampicin thì có tới trên 90% có kèm theo kháng Isoniazid, vì vậy khi phát hiện kháng Rifampicin người bệnh được coi như đa kháng thuốc và thu nhận điều trị phác đồ đa kháng 5 - Đa kháng thuốc (MDR-TB): Kháng đồng thời với ít nhất hai thuốc chống lao là Isoniazid và Rifampicin - Tiền siêu kháng: Lao đa kháng có kháng thêm với bất cứ thuốc nào thuộc nhóm Fluoroquinolone hoặc với ít nhất một trong ba thuốc tiêm hàng hai Capreomycin, Kanamycin, Amikacin, (chứ không đồng thời cả 2 loại thêm). - Siêu kháng thuốc (XDR-TB): Lao đa kháng có kháng thêm với bất cứ thuốc nào thuộc nhóm Fluoroquinolone và bất cứ thuốc nào trong ba thuốc tiêm hàng hai (Capreomycin, Kanamycin, Amikacin) (13). Bệnh nhân lao phổi: là người được chẩn đoán xác định mắc lao phổi.
Các tiêu chuẩn chẩn đoán xác định lao phổi được quy định tại Quyết định 1314/QĐ- BYT ngày 24 tháng 3 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh lao (13). Sức khỏe: Năm 1948, WHO đưa ra khái niệm Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế (16). Chất lượng cuộc sống: Theo định nghĩa của WHO, Chất lượng cuộc sống là nhận thức của một cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống trong bối cảnh của nền văn hóa và hệ thống giá trị nơi họ sống và liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của họ. Sự nhận thức này liên quan đến những mục tiêu, mong muốn và những quan tâm lo lắng của họ.
Đây là một khái niệm tổng hợp chịu ảnh hưởng phức tạp của sức khỏe thể lực, tình trạng tâm lý của con người, các mức độ độc lập, các mối quan hệ xã hội và đặc điểm môi trường xung quanh (17). Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe: Theo định nghĩa của Hiệp hội Quốc tế về Nghiên cứu chất lượng cuộc sống, Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe là khía cạnh sức khỏe của CLCS, tập trung vào mức độ năng lực của con người, hoạt động hàng ngày và khả năng trải nghiệm một cuộc sống viên mãn. Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến CLCS liên quan đến sức khỏe của một người bao gồm: bệnh tật, chấn thương, sự suy yếu, nhận thức về sức khỏe, chăm sóc sức khỏe và điều trị, chính sách (18,19). Thuật ngữ Chất lượng cuộc sống trong nghiên cứu 6 này được hiểu là chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và vấn đề sức khỏe ở đây là lao phổi.
Một số công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe Theo Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa kỳ, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe có thể được đánh giá bằng những công cụ chung chung hoặc có thể sử dụng các công cụ chuyên biệt dành riêng cho từng loại bệnh hoặc từng tình trạng bệnh khác nhau. Các công cụ đặc hiệu được đánh giá là chính xác và có độ nhạy với các yếu tố làm thay đổi CLCS của người bệnh tốt hơn so với các công cụ chung. Tuy nhiên, với sự thay đổi liên tục và phức tạp hóa của bệnh tật, việc xây dựng và phát triển các công cụ đặc hiệu là khó khăn và mất nhiều thời gian hơn. Các công cụ chung được thiết kế, phát triển ở nhiều khía cạnh khác nhau có liên quan đến sức khỏe giúp đánh giá và so sánh CLCS trên nhiều đối tượng hoặc các quần thể khác nhau (20).
Có nhiều bộ công cụ đánh giá CLCS liên quan đến sức khỏe đã được các nghiên cứu áp dụng để đánh giá CLCS của BNL và cho các kết quả có ý nghĩa về mặt khoa học, mặc dù các công cụ này không được thiết kế đặc hiệu cho bệnh lao (21,22) (Bảng tổng hợp tại Phụ lục 4). Tuy nhiên, có một số bộ công cụ chung được sử dụng phổ biến hiện nay là SF-36 (The Short Form 36 Health Survey) (23), WHOQOL-BREF (World Health Organization's brief Quality of Life) (24) và EQ-5D (Euro Quality of Life - 5D)(25). Bộ công cụ SF-36 được xây dựng và giới thiệu lần đầu từ năm 1992 bởi nhóm nghiên cứu y tế thuộc tập đoàn RAND (23). SF-36 không được thiết kế để đánh giá CLCS của một tình trạng bệnh đặc biệt nào mà là dùng để đánh giá một cách khái quát những tác động của bệnh đối với người bệnh.
SF-36 gồm 36 câu hỏi đánh giá 8 khía cạnh: sức khỏe liên quan đến hoạt động chức năng hay thể chất (10 câu), giới hạn hoạt động do khiếm khuyết chức năng (4 câu), cảm nhận đau đớn (2 câu), sức khoẻ tổng quát (6 câu), giới hạn vai trò do các vấn đề về tinh thần (3 câu), sinh lực/sức sống (4 câu), sức khỏe tâm thần hay trạng thái tâm lý/cảm xúc (5 câu) và hoạt động xã hội (2 câu); chia làm 2 nhóm sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần Bộ công cụ được ứng dụng trên nhiều bệnh lý khác nhau và có thể dùng cho nhiều quần thể khác nhau để kiểm tra tác động của chăm sóc sức khoẻ của các 7 chương trình khác nhau đến CLCS của người bệnh (23). Độ tin cậy của SF-36 được minh chứng với hệ số độ tin cậy Cronbach’s alpha lớn hơn 0,85 (tối thiểu từ 0,70 trở lên là đạt yêu cầu), và lớn hơn 0,75 đối với tất cả các khía cạnh (ngoại trừ chức năng xã hội) (26). Đến năm 1996, SF-36 đã được sử dụng và phát triển ở hơn 40 quốc gia, được sử dụng để đánh giá trong hơn 130 bệnh và tình trạng, phổ biến nhất là viêm khớp, đau lưng, trầm cảm, tiểu đường và tăng huyết áp (27), (28). Tại năm này, SF-36 phiên bản 2.0 ra đời, có cấu trúc đơn giản, từ ngữ rõ ràng và đối tượng tự điền câu trả lời (sử dụng thang đo 5 mức độ thay cho có/không) (28).
Theo Jenkinson và cộng sự (1999), SF-36 phiên bản 2.0 có sự nhất quán nội bộ của các câu hỏi cao nhờ đó cải thiện được tỷ lệ trả lời, sai số chuẩn nhỏ hơn, tăng độ chính xác của thang điểm (29). Đến 2005, đã có khoảng 5000 bài báo tại hơn 60 quốc gia trên thế giới sử dụng SF-36 với chỉ số Cronbach’s alpha khoảng 0. Năm 2008, SF-36 phiên bản 2.0 tiếng Việt đã được xây dựng và đánh giá ở đối tượng người Mỹ gốc Việt nhưng chưa được đánh giá về tính chấp thuận và thẩm định tại Việt Nam (31). Đến năm 2016, Võ Tuấn Khoa và Nguyễn Thy Khuê đã thực hiện quá trình chuyển ngữ, thích ứng văn hóa, thẩm định bước đầu SF-36 (phiên bản 2.0) tiếng Việt trên người bệnh đái tháo đường ở Việt Nam (32) và kết luận rằng bản dịch tiếng Việt của SF-36 thích hợp tại Việt Nam và SF-36 phiên bản 2.0 tiếng Việt có tính giá trị và độ tin cậy và có thể sử dụng để đánh giá CLCS trong các nghiên cứu tại Việt Nam.
Từ đó, SF-36 phiên bản 2.0 tiếng Việt đã được nhiều tác giả ứng dụng để đánh giá CLCS trên các đối tượng có các bệnh lý khác nhau như đái tháo đường, tăng huyết áp, suy thận, lao … (7,21,33-37). Tuy nhiên, SF-36 không đánh giá đặc thù trên một tình trạng sức khỏe/ bệnh cụ thể mà chỉ đánh giá CLCS với các vấn đề sức khỏe nói chung, không đủ đặc hiệu, độ nhạy để phát hiện về hiệu quả điều trị (29). WHOQOL-BREF là bộ công cụ rút gọn để đánh giá CLCS được WHO xây dựng năm 1996 gồm 26 câu hỏi, rút gọn từ bộ công cụ WHOQOL - 100 (100 câu hỏi). WHOQOL-BREF đo lường 4 lĩnh vực: Thể chất (về các khía cạnh như hoạt động hàng ngày, phụ thuộc thuốc và hỗ trợ y tế, sức lực và mệt mỏi, sự vận động, đau đớn khó chịu, giấc ngủ và nghỉ ngơi, khả năng làm việc), tâm lý (ngoại hình; 8 cảm xúc tiêu cực; tích cực; lòng tự trọng; tâm linh/tôn giáo/ tín ngưỡng cá nhân; suy nghĩ, học tập, trí nhớ và sự tập trung), xã hội (các mối quan hệ cá nhân, hỗ trợ xã hội, hoạt động tình dục) và môi trường (tài chính, tự do, an toàn về thể chất và an ninh, chăm sóc y tế và chăm sóc xã hội, gia đình, có thông tin và kỹ năng mới, tham gia hoạt động vui chơi giải trí/giải trí, môi trường vật lý, giao thông vận tải).
Ưu điểm của thang đo này là đánh giá được các khía cạnh về thể chất, tinh thần và xã hội, đồng thời thang đo đã ngắn hơn so với thang đo gốc của WHO với những câu trọng tâm, phù hợp để sử dụng trong lâm sàng và nghiên cứu có cỡ mẫu lớn.