ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế thế giới, năm 2017 thế giới có khoảng 451 triệu người bị bệnh đái tháo đường ĐTĐ, tương đương cứ 11 người có 1 người bị ĐTĐ. Năm 2019, Tổ chức Đái tháo đường Quốc tế thống kê có 9,3% người trưởng thành ở độ tuổi từ 20 đến 79 tương ứng với 463 triệu người, đang sống chung với bệnh tiểu đường và bệnh tiểu đường là nguyên nhân trực tiếp của 1,5 triệu ca tử vong(1, 2). Hơn 1,1 triệu trẻ em và thanh thiếu niên dưới 20 tuổi, sống chung với bệnh tiểu đường típ 1(3). Một thập kỷ trước, vào năm 2010, dự báo toàn cầu về bệnh đái tháo đường vào năm 2025 là 438 triệu người.
IDF ước tính rằng sẽ có 578 triệu người trưởng thành mắc bệnh tiểu đường vào năm 2030 và 700 triệu vào năm 2045 (3). Năm 2020 thì tỉ lệ mắc ĐTĐ ở Việt Nam tăng lên đến 5,7% dân số. Năm 2020, Việt Nam có khoảng 1,4 triệu bệnh nhân mắc ĐTĐ típ 2 (59% nữ giới/ 41% nam giới). Trong những năm gần đây, tỷ lệ ĐTĐ ở Việt Nam tăng nhanh, nghiên cứu của Tạ Văn Bình nghiên cứu thực trạng ĐTĐ tại khu vực thành thị của 4 thành phố lớn cho thấy tỷ lệ hiện mắc lên đến 4,0%.
Tác giả cũng nhận định rằng tỷ lệ bệnh thực sự còn cao hơn so với nghiên cứu vì tuổi điều tra mới chỉ giới hạn đến 64 tuổi (4). Tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường ở Việt Nam tăng mạnh trong thời gian 2 thập kỷ. Tỷ lệ phổ biến trên toàn quốc của ĐTĐ típ 2 ước tính là 2,7% vào năm 2002 và 5,4% vào năm 2012. Các ước tính cho khu vực phía Bắc là 1,4% vào năm 1994 và 3,7% vào năm 2012 và ở khu vực phía Nam là 3,8% vào năm 2004, 7,0% năm 2008 và 12,4% năm 2010 (5).
Đái tháo đường là vấn đề sức khỏe cộng đồng của toàn cầu, bệnh gây nhiều biến chứng ở mắt, não, tim, thận, mạch máu, thần kinh… ĐTĐ là nguyên nhân 12,5% mù lòa, 42% suy thận mạn giai đoạn cuối, 50% cắt cụt chi không do chấn thương, tăng 2,5 lần nguy cơ đột quỵ, tăng 2-4 lần nguy cơ tim mạch, hàng năm có khoảng 3,2 triệu người ĐTĐ trên thế giới tử vong. Không chỉ gây nên gánh nặng bệnh tật, tử vong sớm, ĐTĐ cũng làm CLCS của người mắc bệnh giảm đi (6). Theo Tổ chức Y tế Thế giới CLCS là nhận thức của cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống, trong bối cảnh văn hoá và hệ thống giá trị sống, liên quan đến mục 2 tiêu, mong đợi, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ (4, 7). CLCS là một lĩnh vực quan trọng đối với người bệnh ĐTĐ, CLCS kém dẫn đến việc giảm bớt sự tự chăm sóc, điều này dẫn đến việc kiểm soát đường huyết xấu đi, tăng nguy cơ biến chứng, và tăng thêm tính trầm trọng của bệnh ĐTĐ.
Người bệnh cũng phải đối mặt với rất nhiều biến chứng nguy hiểm, bao gồm mất thị lực, hoại tử chi dưới dẫn đến cắt cụt chi, suy thận, tổn thương thần kinh, nhồi máu cơ tim và đột quỵ (8). Đo lường CLCS của người bệnh ĐTĐ góp phần quan trọng cho việc đánh giá gánh nặng bệnh tật của bệnh, hiệu quả của phương pháp điều trị bệnh. Nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân, cũng như làm căn cứ để xây dựng các kế hoạch điều trị, chăm sóc cho bệnh nhân ĐTĐ trong tương lai. Có các báo cáo cho thấy sự tuân thủ điều trị tốt thì cải thiện tốt hơn việc kiểm soát bệnh ĐTĐ, làm ít xuất hiện các trường hợp biến chứng do bệnh hơn chẳng hạn như bệnh võng mạc mạch máu, bệnh thận (21).
Các chi phí để sử dụng các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cũng là yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của người bệnh (22). Hiện nay, Trung tâm Y tế huyện Hoài Đức đang quản lý điều trị cho 1.369 bệnh nhân ĐTĐ típ 2, số bệnh nhân Đái tháo đường quản lý mới trong năm 2019 là 198 bệnh nhân, tăng 30% so với năm 2018, trong năm 2020 là 137 bệnh nhân, tăng 11% so với năm 2019 (9-11). Với số lượng bệnh nhân Đái tháo đường típ 2 lớn, tăng nhanh qua mỗi năm, thì ngoài công tác điều trị, CLCS của bệnh nhân Đái tháo đường rất cần được quan tâm để từ đó nâng cao hiệu quả của công tác chăm sóc và điều trị bệnh. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu đánh giá nào được triển khai về vấn đề này tại địa bàn huyện Hoài Đức.
Chính vì vậy việc triển khai nghiên cứu đánh giá CLCS nói chung trong quá trình theo dõi, điều trị Đái tháo đường là cần thiết để nâng cao hiệu quả điều trị và CLCS cho người bệnh. Do đó, chúng tôi triển khai nghiên cứu: “Chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan của người bệnh Đái tháo đường típ 2 được quản lý, điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội năm 2021”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường típ 2 được quản lý, điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Hoài Đức năm 2021.
Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường típ 2 được quản lý, điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Hoài Đức năm 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Định nghĩa bệnh đái tháo đường: - Theo Tổ chức Y tế Thế giới: Bệnh tiểu đường là một bệnh chuyển hóa mãn tính, đặc trưng bởi lượng glucose trong máu (hoặc đường huyết) tăng cao, theo thời gian dẫn đến tổn thương nghiêm trọng cho tim, mạch máu, mắt, thận và thần kinh.(2) - Theo Bộ Y tế Việt Nam: Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh.2 Phân loại bệnh đái tháo đường: Phân loại đái tháo đường gồm: a) Đái tháo đường típ 1 (do khuyết thiếu tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối). c) Đái tháo đường thai kỳ (là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ típ 1, típ 2 trước đó).
d) Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hoá chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô…(12) 1.3 Chẩn đoán Đái tháo đường: Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (theo Hiệp Hội Đái tháo đường Mỹ - ADA) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây: 5 a) Glucose huyết tương lúc đói (FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ) b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. d) BN có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc của cơn tăng glucose huyết cấp kèm mức glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L).
Chẩn đoán xác định nếu có 2 kết quả trên ngưỡng chẩn đoán trong cùng 1 mẫu máu xét nghiệm hoặc ở 2 thời điểm khác nhau đối với tiêu chí a, b, hoặc c; riêng tiêu chí d: chỉ cần một lần xét nghiệm duy nhất.4 Đái tháo đường típ 2 Đái tháo đường típ 2 trước kia được gọi là ĐTĐ của người lớn tuổi hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin, chiếm 90-95% các trường hợp ĐTĐ. Thể bệnh này bao gồm những người có thiếu insulin tương đối cùng với đề kháng insulin. Ít nhất ở giai đoạn đầu hoặc có khi suốt cuộc sống BN ĐTĐ típ 2 không cần insulin để sống sót. Có nhiều nguyên nhân của ĐTĐ típ 2 nhưng không có một nguyên nhân chuyên biệt nào.
BN không có sự phá hủy tế bào beta do tự miễn, không có kháng thể tự miễn trong máu. Đa số BN có béo phì hoặc thừa cân và/hoặc béo phì vùng bụng với vòng eo to. Béo phì nhất là béo phì vùng bụng có liên quan với tăng acid béo trong máu, mô mỡ cũng tiết ra một số hormon làm giảm tác dụng của insulin ở các cơ quan đích như gan, tế bào mỡ, tế bào cơ (đề kháng insulin tại các cơ quan đích). Do tình trạng đề kháng insulin, ở giai đoạn đầu tế bào beta bù trừ và tăng tiết insulin trong máu, nếu tình trạng đề kháng insulin kéo dài hoặc nặng dần, tế bào beta sẽ không tiết đủ insulin và ĐTĐ típ 2 lâm sàng sẽ xuất hiện.
Tình trạng đề kháng insulin có thể cải thiện khi giảm cân, hoặc dùng một số thuốc nhưng không bao giờ hoàn toàn trở lại bình thường.5 Điều trị đái tháo đường típ 2: Mục tiêu điều trị bệnh đái tháo đường típ 2 ở mỗi bệnh nhân có thể khác nhau tùy tình trạng bệnh như thời gian bị bệnh ngắn, bệnh nhân được điều trị bằng thay đổi lối sống, trẻ tuổi hoặc không có bệnh tim mạch thì mục tiêu điều trị sẽ nghiêm ngặt hơn các bệnh nhân có tiền sử hạ glucose huyết trầm trọng, lớn tuổi, có biến chứng mạch máu, có nhiều bệnh lý đi kèm… Tuy nhiên theo hướng dẫn chẩn đoán, điều trị của Bộ y tế (12, 13), mục tiêu và phương pháp điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường ở người trưởng thành và không có thai cụ thể như sau: Bảng 1.1 Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường ở người trưởng thành, không có thai Mục tiêu Chỉ số HbA1c <7% (53mmol/mol) Glucose huyết tương mao 80-130mg/dL (4,4mmol/L – 7,2 mmol/L) mạch lúc đói Đỉnh glucose huyết tương <180mg/dL (10mmol/L) mao mạch sau ăn 1-2giờ Huyết áp Tâm thu<140mmHg, tâm trương <90mmHg Nếu đã có biến chứng thận: HA<130/85-80 mmHg Lipid máu LDL cholesterol <100mg/dL (2,6mmol/L), chưa có biến chứng tim mạch LDL cholesterol <70mg/dL (1,8mmol/L), nếu đã có biến chứng tim mạch Triglycerides <150mg/dL (1,7 mmol/L) HDL cholesterpl >40 mg/dL (1,0 mmol/L) ở nam và >50 mg/dL (1,3 mmol.L) ở nữ - Việc lựa chọn thuốc khởi đầu cũng như mục tiêu điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ còn phụ thuộc vào 1 số yếu tố như vấn đề cân nặng, hiệu quả giảm glucose máu, bệnh lý kèm theo (tim mạch, huyết áp…), tuổi (đặc biệt người <65 tuổi), sự sẵn có của thuốc, phác đồ dễ nhớ, dễ sử dụng…(13) 1.