ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) bệnh lao là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai trong các bệnh truyền nhiễm trên thế giới [74]. Trong năm 2014, theo báo cáo của WHO thì trên toàn cầu có khoảng 9,6 triệu người mắc mới, trong đó có khoảng 5,4 triệu người là nam giới; 3,2 triệu người là phụ nữ và 1 triệu là trẻ em, và ước tính có khoảng 1,5 triệu người tử vong trong đó có 0,4 triệu người đồng nhiễm lao/HIV, ước tính có khoảng 480.000 phụ nữ và khoảng 140.000 trẻ em tử vong do lao. Cũng theo WHO tỷ lệ tử vong do lao cao này là hoàn toàn có thể kiểm soát được vì hầu hết các trường hợp tử vong do lao là có thể phòng ngừa nếu được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời chính xác. Phác đồ ngắn ngày của sử dụng thuốc lao hàng 1 có thể chữa khỏi trên 90% các trường hợp được phát hiện trong nhiều thập kỷ qua [73], [74], [75].
Tình hình dịch tễ bệnh lao kháng thuốc đang có diễn biến phức tạp và đã xuất hiện ở hầu hết các quốc gia. Điều trị bệnh lao kháng thuốc thời gian kéo dài, chi phí cao hơn so với điều trị lao thông thường là một trong những thách thức lớn đối với mục tiêu thanh toán bệnh lao trên thế giới. Là 1 trong 27 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao Việt Nam cũng đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức từ bệnh lao mà đặc biệt là bệnh lao kháng thuốc. Theo WHO, Việt Nam xếp thứ 12 trong tổng số 22 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao và đứng thứ 14 trên 27 quốc gia có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc cao trên toàn cầu.
WHO ước tính năm 2014, tỷ lệ mới mắc lao tại Việt Nam là khoảng 140 trên 100.000 bệnh nhân), và tỷ lệ hiện mắc lao là khoảng 198 / 100.000 dân (tương đương 180.000 bệnh nhân), tỷ lệ tử vong do lao là khoảng 18/100.000 người tử vong / năm). Tỷ lệ kháng đa thuốc trong nhóm bệnh nhân mới là 4 %, trong bệnh nhân điều trị lại là 23%, trong khi đó so với thế giới thì tỷ lệ kháng đa thuốc trong bệnh nhân mới là 3,5% và trong bệnh nhân điều trị lại là 20,5 % [7], [8], [75]. Như vậy tỷ lệ bệnh lao kháng thuốc ở Việt Nam là cao hơn so với thế giới. Để ứng phó với những gánh nặng về bệnh lao kháng thuốc đã gây ra, Chương trình chống lao quốc gia (CTCLQG) đã và đang có nhiều hoạt động nhằm giảm 2 gánh nặng của nó.
Từ năm 2009 CTCLQG đã triển khai hoạt động phát hiện, điều trị và quản lý bệnh nhân lao kháng tại các bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, sau đó tại bệnh viện lao và bệnh Phổi Cần Thơ, bệnh viện 74 Trung ương và bệnh viện Phổi Hà Nội. Tuy nhiên, tại Hà Nội giai đoạn ban đầu khó khăn về nhân lực và cơ sở vật chất đã làm chậm quá trình triển khai này và đến năm 2011 bệnh viện Phổi Hà Nội mới bắt đầu triển khai hoạt động phát hiện, chẩn đoán, thu dung điều trị và quản lý bệnh nhân lao kháng thuốc. Thời gian đầu khi triển khai, bệnh nhân được xét nghiệm chẩn đoán tại khoa vi sinh bệnh viện Phổi trung ương bằng kỹ thuật nuôi cấy kháng sinh đồ, từ tháng 5 năm 2012 thì được xét nghiệm chẩn đoán tại khoa vi sinh bệnh viện Phổi Hà Nội bằng kỹ thuật Gene Expert. Bệnh nhân sau khi được chẩn đoán là lao kháng thuốc được thu dung điều trị nội trú tại bệnh viện Phổi Hà Nội khoảng 3 đến 4 tuần, bệnh nhân dung nạp thuốc tốt thì được chuyển về tiếp tục điều trị quản lý tại tuyến quận huyện và xã phường, hàng tháng tiến hành tái khám tại bệnh viện Phổi Hà Nội, thuốc điều trị cho bệnh nhân lao kháng thuốc được cung ứng từ bệnh viện Phổi Hà Nội tới tuyến quận huyện hàng tháng.
Thời gian điều trị kéo dài, bệnh nhân dễ bỏ trị, trình độ chuyên môn về điều trị bệnh lao kháng thuốc còn hạn chế đang là những thách thức trong quá trình phát hiện, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh nhân lao kháng thuốc, tuy nhiên tại Hà Nội chưa có 1 nghiên cứu nào tìm hiểu về vấn đề này. Nhằm cung cấp thông tin chính xác và khoa học về tình trạng phát hiện, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh nhân lao kháng thuốc thuộc Chương trình chống lao Hà Nội, những khó khăn và thuận lợi trong quá trình này chúng tôi tiến hành đề tài: “Thực trạng phát hiện, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh nhân lao kháng đa thuốc thuộc chương trình chống lao Hà Nội giai đoạn 2011-2014” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu cụ thể 1. Mô tả đặc điểm bệnh nhân lao kháng đa thuốc thuộc Chương trình chống lao Hà Nội giai đoạn 2011-2014 2. Mô tả thực trạng tình hình phát hiện, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh nhân lao kháng đa thuốc thuộc Chương trình Hà Nội giai đoạn 2011- 2014 3.
Phân tích những khó khăn, thuận lợi trong quá trình phát hiện, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh nhân lao kháng đa thuốc thuộc Chương trình chống lao Hà Nội giai đoạn 2011-2014. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dịch tễ học bệnh lao 1. Tình hình bệnh lao trên thế giới Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) bệnh lao là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai trong các bệnh truyền nhiễm trên thế giới [74].
Trong năm 2014, theo báo cáo của WHO thì trên toàn cầu có khoảng 9,6 triệu người mắc mới, trong đó có khoảng 5,4 triệu người là nam giới; 3,2 triệu người là phụ nữ và 1 triệu là trẻ em, và ước tính có khoảng 1,5 triệu người tử vong trong đó có 0,4 triệu người đồng nhiễm lao/HIV, ước tính có khoảng 480.000 phụ nữ và khoảng 140.000 trẻ em tử vong do lao. Cũng theo WHO tỷ lệ tử vong do lao cao này là hoàn toàn có thể kiểm soát được vì hầu hết các trường hợp tử vong do lao là có thể phòng ngừa nếu được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời chính xác. Phác đồ ngắn ngày của sử dụng thuốc lao hàng 1 có thể chữa khỏi trên 90% các trường hợp được phát hiện trong nhiều thập kỷ qua [73], [74], [75]. Tình hình dịch tễ bệnh lao kháng thuốc đang có diễn biến phức tạp và đã xuất hiện ở hầu hết các quốc gia.
Điều trị bệnh lao kháng thuốc thời gian kéo dài, chi phí cao hơn so với điều trị lao thông thường là một trong những thách thức lớn đối với mục tiêu thanh toán bệnh lao trên thế giới. Xu hướng dịch tễ bệnh lao trên toàn cầu nói chung có chiều hướng thuyên giảm với tỷ lệ mới mắc lao giảm trong khoảng thời gian dài và có tốc độ giảm khoảng 2%/năm. Trong kế hoạch chiến lược giai đoạn 2011-2015, WHO đã đưa ra mục tiêu đến năm 2015 giảm 50% số người bệnh lao hiện mắc và tử vong so với năm 1990. Như vậy, mục tiêu toàn cầu năm 2015 là giảm 50% tỷ lệ mới mắc lao so với năm 1990 là đã đạt được và tỷ lệ tử vong do lao đã giảm khoảng 41% so với năm 1990 và đến năm 2015, toàn cầu có khả năng đạt được mục tiêu đề ra là giảm 50% tỷ lệ tử vong do lao so với năm 1990 [7], [8], [74], [75].
Tình hình bệnh lao tại Việt Nam Là 1 trong 27 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao Việt Nam cũng đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức từ bệnh lao mà đặc biệt là bệnh lao kháng thuốc. Theo WHO, Việt Nam xếp thứ 12 trong tổng số 22 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao 5 và đứng thứ 14 trên 27 quốc gia có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc cao trên toàn cầu. WHO ước tính năm 2014, tỷ lệ mới mắc lao tại Việt Nam là khoảng 140 trên 100.000 bệnh nhân), và tỷ lệ hiện mắc lao là khoảng 198 / 100.000 dân (tương đương 180.000 bệnh nhân), tỷ lệ tử vong do lao là khoảng 18/100.000 người tử vong / năm). Tỷ lệ kháng đa thuốc trong bệnh nhân mới là 4 %, trong bệnh nhân điều trị lại là 23%, trong khi đó so với thế giới thì tỷ lệ kháng đa thuốc trong bệnh nhân mới là 3,5% và trong bệnh nhân điều trị lại là 20,5 % [7], [8], [75].
Như vậy tỷ lệ bệnh lao kháng thuốc ở Việt Nam là cao hơn so với thế giới. Theo báo cáo của WHO thì tình hình dịch tễ bệnh lao của Việt Nam hiện nay như sau: Bảng 1.1: Tình hình dịch tễ bệnh lao tại Việt nam 2014 Số lượng Tỷ lệ (trên Ước tính gánh nặng bệnh lao – 2014 (nghìn người) 100.000 dân) Tử vong do lao (loại trừ HIV) 17 (11-23) 18 (12-25) Lao hiện mắc các thể (bao gồm cả HIV +) 180 (76-330) 198 (83-362) Lao mới mắc các thể (bao gồm cả HIV +) 130 (110-150) 140 (116-167) Lao /HIV dương tính mới mắc 7 (5,7-8,5) 7,6 (6,1-9,2) Tỷ lệ phát hiện các thể (%) 77 (63-91) Tỷ lệ kháng đa thuốc trong bệnh nhân mới (%) 4 (2,5 – 5,4) Tỷ lệ kháng đa thuốc trong bệnh nhân điều trị 23 (17 –30) lại (%) % bệnh nhân lao được xét nghiệm HIV 73 % % HIV dương tính trong số người xét nghiệm 5% HIV (Nguồn: http://www.int/tb/data/– WHO) 6 So với năm 2012 thì tỷ lệ hiện mắc lao các thể và tỷ lệ tử vong do lao đều giảm (năm 2012 tỷ lệ tử vong do lao là 20/100.000 dân, tỷ lệ hiện mắc lao các thể là 218/100.000 dân) tuy nhiên tỷ lệ kháng thuốc trong bệnh nhân mới và tỷ lệ kháng thuốc trong bệnh nhân điều trị lại lại có xu hướng tăng cao (năm 2012 tỷ lệ kháng thuốc trong bệnh nhân mới là 2,7%, tỷ lệ kháng thuốc trong bệnh nhân điều trị lại là 19%), ngoài ra tỷ lệ kháng thuốc ở 2 nhóm đối tượng này tại Việt Nam cũng cao hơn so với mức chung của WHO (theo báo cáo chung của WHO, tỷ lệ kháng thuốc trong nhóm bệnh nhân mới là 3,5%, trong nhóm bệnh nhân điều trị lại là 20,5 %). Điều này làm cho công tác phòng chống lao ngày một khó khăn hơn, do quá trình điều trị lao kháng thuốc kéo dài hơn, chi phí điều trị tốn kém hơn. Theo CTCLQG dựa số liệu phát hiện – điều trị của CTCLQG trong giai đoạn năm 2000-2012 và kết quả điều tra tình hình hiện mắc lao toàn quốc năm 2006- 2007 các chuyên gia ước tính tỷ lệ hiện mắc lao giai đoạn 1990 - 2000 giảm 4,6% mỗi năm.
Theo đó so với năm 1990, tỷ lệ hiện mắc lao tại Việt Nam đã giảm khoảng 62%.