Tổng quan luận án

Bệnh lao là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong số các bệnh nhiễm trùng trên phạm vi toàn cầu, cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu người mỗi năm. Mặc dù Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã áp dụng chiến lược điều trị ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp (DOTS) từ năm 1993 trên 183 quốc gia và tiếp cận được 70% số bệnh nhân mới mắc, bệnh lao phổi nói chung và lao phổi tái phát nói riêng vẫn là thách thức y tế nghiêm trọng. Năm 2009, tỷ lệ lao phổi tái phát so với tổng số ca phát hiện tại các khu vực trên thế giới chiếm tỷ lệ đáng kể: Tây Thái Bình Dương (26,4%), Đông Nam Á (24,9%), Châu Mỹ (13,6%), Châu Âu (13,0%), Châu Phi (12,0%) và Cận Đông (8,8%). Tại Việt Nam, độ lưu hành bệnh ở mức trung bình cao trong khu vực Tây Thái Bình Dương, ước tính tỷ lệ mắc lao phổi có vi khuẩn kháng cồn kháng toan (AFB(+)) mới là 80/100.000 dân, tổng số bệnh nhân lao các thể là 180/100.000 dân; trong đó số bệnh nhân lao phổi tái phát, thất bại và tái trị là 8.131 trường hợp (chiếm 8,3%). Lao phổi tái phát có tỷ lệ điều trị khỏi thấp và tỷ lệ kháng thuốc cao (kháng thuốc chung từ 66,5% đến 85,9%; đa kháng thuốc từ 30% đến 62,9%).

Trước năm 2013, tại thành phố Cần Thơ, công tác phát hiện bệnh nhân lao hoàn toàn theo phương thức thụ động, phụ thuộc vào việc người bệnh tự đến khám tại các cơ sở y tế khi xuất hiện triệu chứng. Kỹ thuật chẩn đoán vi khuẩn tại tuyến cơ sở chủ yếu dừng lại ở xét nghiệm nhuộm soi đàm trực tiếp tìm AFB, việc điều trị thực hiện theo từng tầng bậc nên mất nhiều thời gian để xác định tình trạng thất bại hoặc kháng thuốc. Luận án "Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả điều trị can thiệp lao phổi tái phát tại thành phố Cần Thơ năm 2014-2017" của nghiên cứu sinh Trần Thanh Hùng giải quyết khoảng trống thực tiễn về việc ứng dụng phương thức khám sàng lọc chủ động tại cộng đồng kết hợp theo dõi điều trị chuẩn hóa.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung:

  1. Xác định tỷ lệ lao phổi tái phát tại thành phố Cần Thơ.
  2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan gây lao phổi tái phát tại thành phố Cần Thơ.
  3. Đánh giá kết quả điều trị can thiệp lao phổi tái phát tại thành phố Cần Thơ và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân lao phổi mới (AFB(+) và AFB(-)) đã hoàn thành phác đồ điều trị 2SHZR/6HE và được đánh giá khỏi bệnh theo quy định của Chương trình Chống lao Quốc gia (CTCLQG), do Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Cần Thơ quản lý, thu dung từ tháng 12/2009 đến tháng 12/2011; cùng các trường hợp được chẩn đoán xác định lao phổi tái phát qua sàng lọc chủ động và thụ động. Tiêu chuẩn loại trừ gồm bệnh nhân không đồng ý tham gia, chuyển nơi cư trú khỏi địa bàn, tử vong trong thời gian theo dõi định kỳ 3 tháng khi chưa xác định tái phát, hoặc chẩn đoán ban đầu không theo quy định của CTCLQG.
  • Phạm vi không gian: 9 quận, huyện thuộc thành phố Cần Thơ. Khám lâm sàng định kỳ được thực hiện tại hộ gia đình; lấy mẫu đàm và vận chuyển về Tổ lao quận/huyện để soi trực tiếp; chụp và đọc phim X-quang ngực quy ước tại Tổ lao.
  • Phạm vi thời gian: Theo dõi hồi cứu dữ liệu thu dung từ tháng 12/2009 đến tháng 12/2011; triển khai khám sàng lọc chủ động định kỳ và theo dõi can thiệp điều trị từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng hợp các công trình nghiên cứu dịch tễ học và lâm sàng về lao phổi tái phát trên thế giới:

  • Tại Phần Lan, nghiên cứu thuần tập trên 8.084 bệnh nhân mắc lao giai đoạn 1995-2013 ghi nhận tỷ lệ tái phát tổng thể là 113 ca/100.000 người/năm trong thời gian theo dõi trung bình 6,1 năm; 70% trường hợp tái phát đã hoàn thành đợt điều trị đầu tiên [71].
  • Tại Đan Mạch, nghiên cứu theo dõi 13,5 năm với 4.154 mẫu Mycobacterium tuberculosis phân lập xác định 73 trường hợp tái phát (1,8%), gồm 54 ca (1,3%) do tái hoạt động nội sinh và 19 ca (0,5%) do tái nhiễm ngoại lai; hình ảnh hang lao ở đợt điều trị đầu có liên quan đến nguy cơ tái hoạt nội sinh (OR = 4,6; KTC 95%: 1,1 - 26,9) [51].
  • Tại Bắc Kinh, Trung Quốc (2018), Zhaojing Zong và cộng sự phân tích kiểu gen 58 trường hợp tái phát, ghi nhận 37 ca (63,8%) do tái hoạt nội sinh và 21 ca (36,2%) do tái nhiễm; nam giới là yếu tố nguy cơ của tái nhiễm (OR = 4,19; KTC 95%: 1,01 - 17,39; p = 0,049); 11 chủng vi khuẩn tái phát chuyển sang kháng ít nhất một kháng sinh, chủ yếu là Levofloxacin [102].
  • Tại Brazil, Vieira và cộng sự chỉ ra sự khác biệt giữa tái phát sớm và muộn liên quan đến trình độ học vấn ($\le 3$ năm so với $> 3$ năm; p < 0,004) và mức tăng cân khi kết thúc điều trị ban đầu (1,78 kg so với 5,31 kg; p < 0,045) [85].
  • Tại Zambia, Simon Mutembo và cộng sự khảo sát 25.533 bệnh nhân lao, phát hiện 3.566 ca tái phát; tỷ lệ tái phát tại thành thị là 15,3% (KTC 95%: 14,8 - 15,9) và nông thôn là 11,3% (KTC 95%: 10,7 - 12,0); khu vực nông thôn có nguy cơ tử vong cao hơn 70% (OR hiệu chỉnh = 1,7; KTC 95%: 1,2 - 2,7) và nguy cơ mất dấu theo dõi cao gấp 2 lần (OR = 2,0; KTC 95%: 1,3 - 3,0) [75].
  • Tại Hoa Kỳ, Kamila Romanowski (2019) ghi nhận 67 ca tái phát trên 1.189 bệnh nhân (5,6%) với mô hình dự báo gồm tuổi, giới tính và HIV [79]. Sílvia Brugueras khảo sát giai đoạn 2000-2016 xác định tuổi > 34 là yếu tố dự báo tái phát (aHR = 3,90 ở nhóm 35-45 tuổi; aHR = 3,88 ở nhóm > 45 tuổi) [54]. Tại Nhật Bản, K. Hirano (1992) ghi nhận 50,8% bệnh nhân lao tái phát kháng từ 2 loại thuốc trở lên [65].

Tại Việt Nam, các nghiên cứu được điểm lại gồm:

  • Nguyễn Văn Lành khảo sát 96 ca lao phổi AFB(+) tại TX. Ngã Bảy, ghi nhận 12,6% không dùng thuốc đều giai đoạn duy trì và 34,7% uống rượu trong quá trình điều trị [41].
  • Nguyễn Thu Hà, Trần Văn Sáng, Đinh Ngọc Sỹ nghiên cứu 106 bệnh nhân lao phổi tái phát, xác định 32% trường hợp bị đa kháng thuốc [29].
  • Hà Đình Nghĩa nghiên cứu tại Bình Định (2005-2006) trên 160 bệnh nhân, ghi nhận tỷ lệ lao tái phát là 4,42%, nam giới mắc nhiều gấp đôi nữ giới, nhóm tuổi 35-54 chiếm 35-37,5% [44].
  • Lê Văn Nhi khảo sát 121 bệnh nhân lao phổi mới nhiễm HIV tại TP. Hồ Chí Minh, ghi nhận tỷ lệ kháng thuốc là 61,2% (đa kháng thuốc chiếm 42,3%) [45].
  • Đặng Văn Khoa và cộng sự nghiên cứu 35 trường hợp lao kháng thuốc tại BV Lao và Bệnh phổi Trung ương Phúc Yên, ghi nhận nam giới chiếm 85,7%, tuổi trung bình 42 ± 5,4 [37].
  • Trần Hoàng Duy nghiên cứu cắt ngang 112 bệnh nhân lao tái phát tại Cần Thơ (2015-2016), ghi nhận tỷ lệ tái phát sớm chiếm 52,7%, triệu chứng ho khạc đàm chiếm 92%, ran phổi 98,2%, tổn thương xơ hóa trên X-quang chiếm 87,5% [25].

Vị trí của luận án: Trong khi các công trình trong nước chủ yếu mô tả cắt ngang tại bệnh viện chuyên khoa hoặc phân tích hồi cứu số liệu hành chính, luận án này thực hiện nghiên cứu tiến cứu kết hợp can thiệp sàng lọc chủ động tại hộ gia đình trên toàn bộ mạng lưới y tế 9 quận/huyện của Cần Thơ, theo dõi nhóm thuần tập bệnh nhân sau điều trị khỏi để xác định tỷ lệ tái phát thực tế, phân tích toàn diện các yếu tố nguy cơ sinh học - hành vi - xã hội và đánh giá hiệu quả điều trị theo các phác đồ của CTCLQG.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các khái niệm và cơ sở bệnh sinh của CTCLQG và WHO:

  • Khái niệm: Phân biệt nhiễm lao (tồn tại vi khuẩn không hoạt động, không triệu chứng, phát hiện qua test da hoặc IGRA) và bệnh lao (vi khuẩn hoạt động, gây tổn thương mô). Định nghĩa các thể kháng thuốc: kháng thuốc tiên phát (lây nhiễm từ nguồn kháng thuốc), kháng thuốc mắc phải (do điều trị không đúng), kháng thuốc ban đầu (gồm cả tiên phát và mắc phải khi chưa rõ tiền sử) và lao đa kháng thuốc (MDR-TB: kháng đồng thời ít nhất Isoniazid và Rifampicin).
  • Cơ chế gây lao phổi tái phát: Gồm (1) Tái hoạt động nội sinh (vi khuẩn lao tồn tại dạng tiềm ẩn trong tổn thương cũ hoạt động trở lại khi sức đề kháng suy giảm; thời gian kéo dài từ vài tháng đến vài chục năm) và (2) Tái nhiễm ngoại lai (hít phải chủng vi khuẩn mới từ nguồn lây bên ngoài, phân biệt bằng kỹ thuật RFLP).
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán lao phổi tái phát: Người có tiền sử điều trị khỏi hoặc hoàn thành điều trị lao phổi, nay xuất hiện tổn thương nghi ngờ trên X-quang ngực kèm theo một trong các điều kiện: 2 mẫu đàm soi trực tiếp (+); hoặc 1 mẫu đàm soi (+) kèm X-quang gợi ý; hoặc 1 mẫu đàm soi (+) kèm cấy (+); hoặc 1 mẫu đàm soi (+) ở người nhiễm HIV. Trường hợp đàm soi trực tiếp (-) nhưng lâm sàng và X-quang nghi ngờ được điều trị thử bằng kháng sinh phổ rộng (trừ Quinolone và Augmentin) trong 2 tuần trước khi đánh giá lại.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu, cắt ngang phân tích và đánh giá can thiệp điều trị.
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu:
    • Đối với Mục tiêu 1 và 2: Cỡ mẫu tính theo công thức ước lượng tỷ lệ cho quần thể với mức tin cậy 95% ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), hệ số thiết kế = 2. Thực tế chọn toàn bộ 1.622 bệnh nhân đã hoàn thành điều trị lao mới bằng phác đồ 2SHZR/6HE và được công nhận khỏi bệnh từ tháng 12/2009 đến tháng 12/2011 tại Cần Thơ.
    • Đối với Mục tiêu 3: Thu dung toàn bộ bệnh nhân xác định lao phổi tái phát được phát hiện qua các đợt sàng lọc chủ động (tháng 6/2014 - 6/2015) và các ca phát hiện thụ động chưa được điều trị trước thời điểm sàng lọc.
  • Kỹ thuật và công cụ thu thập dữ liệu:
    • Khám lâm sàng định kỳ tại hộ gia đình 3 tháng/lần bởi cán bộ y tế.
    • Nhuộm soi đàm trực tiếp bằng phương pháp Ziehl-Neelsen (lấy 2 mẫu đàm tại chỗ cách nhau ít nhất 2 giờ).
    • Chụp X-quang ngực quy ước tại Tổ lao quận/huyện.
    • Xét nghiệm Real-time PCR Xpert MTB/RIF (độ nhạy 96,7%, độ đặc hiệu 98,6%, phát hiện vi khuẩn và gen kháng Rifampicin rpoB trong 2 giờ) và nuôi cấy vi khuẩn trên môi trường đặc Lowenstein-Jensen hoặc môi trường lỏng MGIT/BACTEC.
  • Biến số nghiên cứu: Tuổi (phân 4 nhóm: < 21, 21-40, 41-60, $\ge 61$), giới tính, cân nặng ban đầu, nghề nghiệp (nông dân, công nhân - viên chức, buôn bán, làm thuê, khác), dân tộc (Kinh, Hoa, Khmer, khác), trình độ học vấn (tiểu học, THCS, THPT, trên THPT), mức sống gia đình (nghèo, không nghèo), tiền sử gia đình có người mắc lao, thói quen hút thuốc lá, uống rượu bia, tiền sử gián đoạn điều trị (giai đoạn, thời gian, lý do), tình trạng dinh dưỡng và các bệnh đồng mắc (HIV/AIDS, đái tháo đường, xơ gan/viêm gan, bệnh phổi mạn tính).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết cơ sở lý luận về tác nhân sinh học, đặc điểm lâm sàng, dịch tễ học và phác đồ điều trị bệnh lao:

  • Đặc điểm vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis hominis: Thuộc dạng ưa khí, sinh sản chậm (chu kỳ phân chia 20 giờ/lần), tồn tại trong nốt vôi hóa nhiều năm; kích thước dài 2-4 $\mu m$, rộng 0,3-1,5 $\mu m$; bị tiêu diệt ở 80°C sau 10 phút, tia cực tím diệt trong 2-3 phút; dòng vi khuẩn Bắc Kinh chiếm 55,4% tại Việt Nam.
  • Dịch tễ học thế giới và Việt Nam: Năm 2017 toàn cầu có 10,4 triệu ca mắc mới và 1,6 triệu ca tử vong do lao. Việt Nam đứng thứ 16 trong 30 nước có gánh nặng lao cao và thứ 15 trong 30 nước có gánh nặng MDR-TB cao nhất thế giới (tỷ lệ mắc mới 129/100.000 dân, 14.000 ca tử vong/năm).
  • Số liệu dịch tễ lao phổi tại Cần Thơ giai đoạn 2011-2015:
Chỉ số Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Lao phổi mới (ca) 1.249 - - - -
Lao phổi tái phát (ca) 140 184 186 183 165
Lao phổi các thể (ca) 1.649 1.657 1.706 1.678 1.617
Tỷ lệ tái phát / Lao phổi các thể (%) 8,5% 11,1% 10,9% 10,9% 10,2%

Năm 2017, BV Lao và Bệnh phổi Cần Thơ phát hiện 1.417 ca lao phổi AFB(+) mới, thu nhận 37 ca lao kháng thuốc tại địa bàn và 158 ca từ các tỉnh lân cận. Năm 2018 thu dung 1.333 ca AFB(+) mới.

  • Dữ liệu so sánh tại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2017-2019:
Thể bệnh và phân loại Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học (số ca / tỷ lệ trên 100.000 dân) 890 / 63,7 854 / 61,2 860 / 62,0
Lao phổi không có bằng chứng vi khuẩn học (số ca / tỷ lệ trên 100.000 dân) 206 / 14,8 148 / 10,6 113 / 8,1
Điều trị lại (số ca / tỷ lệ trên 100.000 dân) 24 / 1,7 19 / 1,4 23 / 1,6
  • Cơ chế bệnh sinh liên quan: Đái tháo đường làm suy giảm chức năng thực bào và lympho T DTH; HIV phá hủy tế bào CD4 làm tăng nguy cơ mắc lao gấp 10-30 lần (khả năng chuyển từ nhiễm sang bệnh lao là 10%/năm và 50% trong suốt cuộc đời); khói thuốc lá làm giảm chức năng đại thực bào phế nang và ức chế tiết cytokine bảo vệ.
  • Các phác đồ điều trị: Phác đồ II cũ (2SRHZE/1RHZE/5RHE hoặc 2SRHZE/1RHZE/5R3H3E3); phác đồ kháng thuốc IVa (6ZEKmLfxPtoCs(PAS)/12ZELfxPtoCs(PAS)) và IVb (6ZEAmLfxPtoCs(PAS)/12ZELfxPtoCs(PAS)); các phác đồ mới A1 (2RHZE/4RHE), A2, B1, B2.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu:

  • Thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô tả, tiến cứu cắt ngang kết hợp can thiệp.
  • Chọn mẫu toàn bộ 1.622 bệnh nhân lao phổi điều trị khỏi tại Cần Thơ từ dữ liệu quản lý giai đoạn 12/2009 - 12/2011.
  • Quy trình sàng lọc chủ động: Khám lâm sàng định kỳ tại nhà 3 tháng/lần, hướng dẫn lấy 2 mẫu đàm tại chỗ cách nhau $\ge 2$ giờ chuyển về Tổ lao quận/huyện để soi kính hiển vi Ziehl-Neelsen, chụp X-quang phổi tại Tổ lao.
  • Thu thập và phân tích các biến số nhân khẩu học, thói quen, tiền sử điều trị và bệnh đồng mắc thông qua phiếu điều tra dịch tễ chuẩn hóa.
  • Đảm bảo tính đạo đức y sinh học: Bảo mật thông tin người bệnh, có văn bản chấp thuận tự nguyện tham gia nghiên cứu.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương này trình bày các số liệu phát hiện về dịch tễ và lâm sàng:

  • Đặc điểm nhân khẩu học và kinh tế - xã hội của bệnh nhân lao phổi tái phát:
    • Giới tính: Nam giới chiếm 73,0%, nữ giới chiếm 27,0%.
    • Tuổi: Độ tuổi trung bình là 44,92 ± 4,6 tuổi.
    • Dân tộc: Dân tộc Kinh chiếm chủ yếu với 96,5%.
    • Vị trí trong gia đình: Chủ hộ và lao động chính chiếm 56,1%; bệnh nhân có con trong độ tuổi đi học chiếm 30,8%.
    • Tôn giáo: Phật giáo chiếm 46,9%, không tôn giáo chiếm 29,6%.
    • Học vấn: Trình độ tiểu học chiếm 48,5%, trung học cơ sở chiếm 32,1%.
    • Nghề nghiệp: Nông dân chiếm 32,7%, làm thuê chiếm 27,6%, không nghề chiếm 22,4%.
    • Mức sống: Diện đủ ăn chiếm 56,1%, diện nghèo chiếm 36,2%, diện khá giả chiếm 7,7%.
    • Đồng nhiễm HIV: Tỷ lệ bệnh nhân đồng nhiễm HIV chiếm 5,7%.
    • Thời gian tái phát: Thời gian tái phát trung bình là 5,31 năm (ngắn nhất 6 tháng, dài nhất 29 năm).
    • Tiếp cận chẩn đoán: 45,9% bệnh nhân phải qua 3 lần đi khám mới được chẩn đoán xác định.
  • Tỷ lệ lao phổi tái phát và kháng thuốc: Xác định tỷ lệ tái phát chung và tỷ lệ kháng thuốc trong nhóm tái phát thông qua xét nghiệm Xpert MTB/RIF và kháng sinh đồ.
  • Các mối liên quan với lao phổi tái phát: Ghi nhận mối liên quan giữa tỷ lệ tái phát với giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, học vấn, kinh tế, tiền sử hút thuốc lá, uống rượu bia, tình trạng dinh dưỡng, thể lao ban đầu, tiền sử gia đình có người mắc lao, tình trạng gián đoạn điều trị (giai đoạn, thời gian, lý do), đồng nhiễm HIV/AIDS, đái tháo đường và xơ gan/viêm gan.
  • Kết quả điều trị can thiệp: Đánh giá tỷ lệ điều trị khỏi, hoàn thành, thất bại, bỏ trị và tử vong theo Phác đồ II và Phác đồ IVa; phân tích mối liên quan giữa kết quả điều trị với giới tính, độ tuổi, địa dư, nghề nghiệp, học vấn, kinh tế, tình trạng dinh dưỡng, thời gian tái phát, mật độ vi khuẩn trong đàm và các bệnh đồng mắc (HIV, đái tháo đường, xơ gan/viêm gan).

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 phân tích, so sánh các kết quả nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:

  • Bàn luận về đặc điểm nhân khẩu: Tỷ lệ nam giới chiếm đa số (73,0%) và tuổi trung bình 44,92 phù hợp với nghiên cứu của Đặng Văn Khoa (nam 85,7%, tuổi 42 ± 5,4) và Hà Đình Nghĩa (nam gấp đôi nữ, tuổi 35-54 chiếm chủ yếu). Tỷ lệ học vấn thấp (tiểu học 48,5%) và kinh tế khó khăn (nghèo 36,2%) là rào cản lớn đối với việc tuân thủ điều trị, tương đồng với phát hiện của Vieira tại Brazil.
  • Bàn luận về hiệu quả sàng lọc chủ động: Phương pháp khám định kỳ tại nhà 3 tháng/lần đã khắc phục được sự chậm trễ của phương thức phát hiện thụ động (vốn khiến 45,9% bệnh nhân phải đi khám đến lần thứ 3 mới được xác định bệnh), giúp phát hiện sớm các ca bệnh trong cộng đồng.
  • Bàn luận về các yếu tố liên quan: Phân tích sâu tác động của hành vi gián đoạn điều trị, thói quen rượu bia (tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Văn Lành: 34,7% uống rượu khi điều trị), thuốc lá (gây ức chế miễn dịch phế nang), bệnh đái tháo đường (suy giảm đáp ứng miễn dịch tế bào), nhiễm HIV (làm tăng nguy cơ tái phát) và xơ gan/viêm gan đến nguy cơ tái phát và kết quả điều trị.
  • Bàn luận về kết quả điều trị can thiệp: Đánh giá tính phù hợp của việc áp dụng xét nghiệm sinh học phân tử để phân loại sớm bệnh nhân vào Phác đồ II hoặc Phác đồ IVa, từ đó nâng cao tỷ lệ điều trị thành công và hạn chế thất bại do vi khuẩn kháng thuốc.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và khoa học dịch tễ:

  • Cung cấp số liệu dịch tễ học có hệ thống về bệnh nhân lao phổi tái phát tại thành phố Cần Thơ trên quần thể 1.622 bệnh nhân điều trị khỏi được theo dõi dọc.
  • Xác lập bằng chứng khoa học về đặc điểm nhân khẩu, hành vi và các bệnh lý đồng mắc (nam giới, nông dân/làm thuê, học vấn thấp, hút thuốc, uống rượu, gián đoạn điều trị, đái tháo đường, HIV, xơ gan) là các yếu tố liên quan trực tiếp đến sự xuất hiện của lao phổi tái phát tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long.

Đóng góp về thực tiễn y tế công cộng:

  • Xây dựng và đánh giá hiệu quả của mô hình phát hiện chủ động lao phổi tái phát tại hộ gia đình kết hợp xét nghiệm đàm và X-quang tại tuyến y tế quận/huyện, giúp rút ngắn thời gian chẩn đoán bệnh.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn của việc sàng lọc kháng thuốc sớm bằng kỹ thuật sinh học phân tử để chỉ định phác đồ điều trị thích hợp (Phác đồ IVa cho lao kháng thuốc), giảm thiểu nguy cơ thất bại khi dùng phác đồ tái trị chuẩn (Phác đồ II).

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Triển khai hoạt động khám sàng lọc chủ động định kỳ tại hộ gia đình cho bệnh nhân lao sau điều trị khỏi trong vòng 2-3 năm đầu tại các trạm y tế và Tổ lao quận/huyện.
  • Tăng cường công tác giám sát tuân thủ điều trị (DOTS) nhằm hạn chế tối đa tình trạng gián đoạn dùng thuốc; đẩy mạnh tư vấn bệnh nhân từ bỏ thuốc lá, rượu bia.
  • Tích hợp chương trình tầm soát, quản lý bệnh đồng mắc (đái tháo đường, HIV, viêm gan/xơ gan) trong hệ thống quản lý bệnh nhân lao tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi nghiên cứu thực hiện trên địa bàn thành phố Cần Thơ với nhóm bệnh nhân thu dung trong giai đoạn 2009-2011; việc triển khai khám định kỳ tại nhà đòi hỏi nhân lực và kinh phí lớn.
  • Kỹ thuật sinh học phân tử RFLP để phân định tuyệt đối giữa hai cơ chế tái hoạt động nội sinh và tái nhiễm ngoại lai chưa được thực hiện đồng loạt trên toàn bộ mẫu do giới hạn về nguồn lực xét nghiệm chuyên sâu.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Ứng dụng rộng rãi kỹ thuật giải trình tự gen hoặc RFLP trong các nghiên cứu dịch tễ học phân tử để xác định chính xác tỷ lệ tái nhiễm ngoại lai của chủng Mycobacterium tuberculosis (đặc biệt dòng Bắc Kinh) tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long.
  • Nghiên cứu đánh giá chi phí - hiệu quả của mô hình sàng lọc chủ động định kỳ tại cộng đồng khi nhân rộng ra các tỉnh khác trong khu vực.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:

  • Cán bộ quản lý và hoạch định chính sách của Chương trình Chống lao Quốc gia: Tham khảo mô hình giám sát chủ động tại hộ gia đình và quy trình phối hợp y tế cơ sở để xây dựng hướng dẫn phát hiện sớm lao tái phát.
  • Bác sĩ chuyên khoa Lao và Bệnh phổi, nhân viên Y tế công cộng: Ứng dụng các yếu tố nguy cơ (gián đoạn điều trị, đái tháo đường, HIV, tiền sử nghiện rượu/thuốc lá) để phân tầng nguy cơ và theo dõi sát bệnh nhân sau khi kết thúc điều trị ban đầu.
  • Giảng viên, học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Y tế công cộng, Dịch tễ học, Bệnh truyền nhiễm: Tham khảo phương pháp thiết kế nghiên cứu thuần tập hồi cứu kết hợp can thiệp tiến cứu tại cộng đồng, phương pháp tính cỡ mẫu và quy trình thu thập dữ liệu dịch tễ học thực địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định lao phổi tái phát trong luận án được quy định như thế nào? Bệnh nhân có tiền sử điều trị lao phổi bằng phác đồ chuẩn và được đánh giá khỏi bệnh/hoàn thành điều trị, nay có tổn thương nghi lao trên X-quang ngực kèm một trong bốn tiêu chí: (1) 2 mẫu đàm soi trực tiếp (+); hoặc (2) 1 mẫu đàm soi (+) kèm X-quang gợi ý; hoặc (3) 1 mẫu đàm soi (+) kèm 1 mẫu cấy (+); hoặc (4) 1 mẫu đàm soi (+) ở người có HIV(+). Trường hợp đàm (-), người bệnh được điều trị kháng sinh phổ rộng 2 tuần để loại trừ di chứng trước khi đánh giá lại.

2. Nhóm bệnh nhân lao phổi tái phát tại Cần Thơ có đặc điểm nhân khẩu học và kinh tế nổi bật nào? Bệnh nhân là nam giới chiếm 73,0%, độ tuổi trung bình là 44,92 ± 4,6 tuổi, dân tộc Kinh chiếm 96,5%. Đa số bệnh nhân có học vấn thấp (tiểu học chiếm 48,5%, THCS chiếm 32,1%), làm nghề nông dân (32,7%) hoặc làm thuê (27,6%), và có mức sống nghèo hoặc chỉ đủ ăn (hộ nghèo chiếm 36,2%, đủ ăn chiếm 56,1%).

3. Khoảng thời gian tái phát trung bình sau khi điều trị khỏi lao ban đầu là bao lâu? Thời gian tái phát trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là 5,31 năm, trong đó trường hợp tái phát ngắn nhất được ghi nhận là 6 tháng và dài nhất là 29 năm sau khi kết thúc điều trị đợt đầu.

4. Những yếu tố bệnh lý và hành vi nào liên quan mật thiết đến nguy cơ lao phổi tái phát? Các yếu tố liên quan chính gồm: tiền sử gián đoạn dùng thuốc trong đợt điều trị đầu tiên, thói quen hút thuốc lá, uống rượu bia, tình trạng đồng nhiễm HIV (chiếm 5,7%), mắc bệnh đái tháo đường, xơ gan/viêm gan mạn tính và tình trạng suy dinh dưỡng.

5. Vì sao cần can thiệp phát hiện chủ động thay vì chờ bệnh nhân tự đến khám? Trong phương thức phát hiện thụ động trước đây, có tới 45,9% bệnh nhân phải đi khám đến lần thứ 3 mới được chẩn đoán xác định. Khám chủ động tại hộ gia đình định kỳ 3 tháng/lần giúp phát hiện sớm vi khuẩn, rút ngắn thời gian lây lan trong cộng đồng và cho phép chỉ định xét nghiệm Xpert MTB/RIF kịp thời để chọn phác đồ điều trị phù hợp.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trần Thanh Hùng đã phản ánh toàn diện thực trạng dịch tễ học và các yếu tố liên quan đến lao phổi tái phát tại thành phố Cần Thơ trên cỡ mẫu 1.622 bệnh nhân. Nghiên cứu chứng minh rằng nam giới, lao động nghèo, người có tiền sử gián đoạn điều trị và mắc các bệnh đồng mắc như HIV, đái tháo đường, bệnh gan là nhóm có nguy cơ tái phát cao. Việc triển khai mô hình sàng lọc chủ động tại hộ gia đình kết hợp ứng dụng chẩn đoán phân tử mang lại giá trị thực tiễn rõ rệt, cung cấp cơ sở khoa học để Chương trình Chống lao Quốc gia hoàn thiện chiến lược quản lý và điều trị lao tái phát tại tuyến cơ sở.