Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÌNH HÌNH TỘI PHẠM 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của tình hình tội phạm 1. Khái niệm Trong lịch sử phát triển của khoa học nghiên cứu về tội phạm học có nhiều khái niệm về tình hình tội phạm, trong đó có một số khái niệm sau: “Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế phát triển của sự vật, hiện tượng với tất cả những sự kiện diễn ra, biến đổi ở trong đó”. (Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb.
Văn hóa – thông tin Hà Nội, 1999, tr1694). “Tình hình tội phạm là một hiện tượng tâm – sinh lý xã hội tiêu cực mang tính lịch sử cụ thể và pháp lý hình sự, có tính giai cấp và được biểu hiện thông qua tổng thể các tội phạm cùng các chủ thể thực hiện các tội phạm đó trong một đơn vị hành chính lãnh thổ nhất định và trong một thời gian cụ thể nhất định” [31,tr10]. “Tình hình tội phạm là hiện tượng tâm – sinh lý xã hội tiêu cực, vừa mang tính lịch sử và lịch sử cụ thể, vừa mang tính pháp lý hình sự với hạt nhân là tính giai cấp, được thể hiện thông qua tổng thể các hành vi phạm tội cùng với các chủ thể đã thực hiện các hành vi đó trong một thời gian và không gian nhất định” [13]. “Tình hình tội phạm là thực trạng và diễn biến của tội phạm đã xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định”.(Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tội phạm học, Nxb, CAND, Hà Nội,2015,tr.
Nghiên cứu nghành khoa học tội phạm trong đó nghiên cứu tình hình tội phạm gồm hợp thành các yếu tố, đó là yếu tố thực trạng và yếu tố diễn biến, tức là phản ánh tội phạm xét trong tổng thể tĩnh và tổng thể vận động, trong tổng thể tĩnh và tổng thể vận động có bao gồm định lượng (mức độ) và định tính (tính chất) 7 Đối tượng nghiên cứu tội phạm học là nghiên cứu tình hình tội phạm gồm mức độ chung hay đề cập một loại tội phạm cụ thể, một loại tội phạm cụ thể phải do con người cụ thể đang tồn tại trong xã hội thực hiện. Chủ thể con người thực hiện hành vi phạm tội có thể xuất phát nguyên nhân nhận thức xã hội tác động bởi điều kiện khách thể nhất định( xã hội) do vậy tình hình tội phạm mang tính xã hội. Tình hình tội phạm trong từng thời kỳ phản ánh thực trạng về kinh tế, văn hóa, chính trị,…của thời kỳ đó. Chẳng hạn vào những thời gian sau giải phóng năm 1975 thì tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia như: hoạt động gián điệp, mật vụ, xâm phạm an ninh quốc gia….
xảy ra nhiều nhằm chống nhà nước, phá hoại chính quyền mới thành lập, nên làm cho an ninh chính trị , xã hội nước ta thời kỳ đó còn chưa ổn định. Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1985 nước ta xảy ra những sự kiện như: chiến tranh biên giới phía Tây Nam, biên giới phía Bắc và khủng hoảng kinh tế - xã hội do cơ chế quan liêu bao cấp mang lại. Tình hình tội phạm trong lĩnh vực an ninh chính trị xảy ra ở biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc, tình hình tội phạm trong lĩnh vực kinh tế - lĩnh vực an toàn xã hội có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Do vậy, thực trạng xã hội về kinh tế, văn hóa, chính trị,… thay đổi dẫn đến tình hình tội phạm thay đổi theo.
Quy định tại Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nêu khái niệm: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,…”. Như vậy tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt, khái niệm tội phạm đã nêu bản chất của tội phạm với tính cách phải là hành vi của con người, hành vi xã hội tiêu cực, hành vi chủ thể này là kết quả tiêu cực của sự tương tác giữa môi trường khách thể xã hội bên ngoài như các yếu tố về 8 kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa-giáo dục, các yếu tố tâm lý – xã hội và các quá trình tâm – sinh lý bên trong chủ thể, hành vi giữ vai trò điều chỉnh bên trong của lối xử sự của chủ thể. Trong đó, yếu tố môi trường khách thể giữ vai trò quan trọng đến quyết định tội phạm. Tuy nhiên, các yếu tố tâm sinh lý bên trong chủ thể không lệ thuộc hoàn toàn vào các yếu tố khách quan của môi trường, mà cũng có tính độc lập tương đối không liên quan tới khách thể môi trường.
Bản thân hành vi chủ thể vận hành theo các quá trình cơ bản như động cơ diễn biến hành vi, kế hoạch hóa hành vi và hiện thực hóa hành vi trong khoảng không gian, thời gian nhất định. Về lý luận chúng ta phải nắm vững cơ chế hành vi phạm tội, tính nguy hiểm cho xã hội, giải thích những quy luật của tình hình tội phạm xuất phát từ những hiện tượng khách quan xã hội và chủ thể. Chủ thể thực hiện hành vi không đúng với quy định pháp luật hình sự, tính có lỗi là thái độ chủ quan của chủ thể con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi được thể hiện dưới hình thức có ý hoặc vô ý thì hành vi này là hành vi trái quy định pháp luật. Tình hình tội phạm xảy ra chúng ta phải đánh giá tình hình tội phạm phải đúng khách quan trong từng địa bàn khác nhau về lãnh thổ, khoảng thời gian , các quy định pháp luật, tính nguy hiểm của tội phạm.
Tính trái pháp luật và tính có lỗi trong pháp luật hình sự của tình hình tội phạm là thuộc tính quan trọng nhằm phân biệt tình hình tội phạm này với những hiện tượng xã hội tiêu cực, những hành vi phạm pháp luật khác. Sự thay đổi quy định pháp luật hình sự như quy định tội mới, hình phạt tùy theo thời gian (bỏ tử hình một số tội danh, bỏ một số định khung và định lượng hình phạt, thêm một số tội….),dẫn đến thay đổi của tình hình tội phạm trên thực tế. Ví dụ như: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có sự thay đổi như bỏ hình phạt tử hình từ 22 tội danh xuống còn 15 tội danh, quy định định lượng cụ thể số tiền 9 để xác định người thực hiện hành vi phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Điều 201), pháp nhân cũng chịu trách nhiệm hình sự (Điều 8 và Điều 76), quy định mới đối tượng là người đủ 75 tuổi trở lên không bị tử hình (điểm b khoản 3 Điều 40), …. Khái quát các dấu hiệu, đặc điểm phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về tình hình tội phạm như sau: Tình hình tội phạm là một hiện tượng tâm – sinh lý xã hội tiêu cực mang tính lịch sử cụ thể và tính trái pháp luật hình sự, có tính giai cấp và được biểu hiện thông qua tổng thể các tội phạm cùng các chủ thể chủ thể đã thực hiện các hành đó trong một thời gian và không gian nhất định.
Đặc điểm Tình hình tội phạm, trước hết là một hiện tương xã hội, vì nó tồn tại trong xã hội, có nguồn gốc trong xã hội, có nội dung xã hội, có nguyên nhân trong xã hội, vì với tính cách là một biểu hiện, là mặt trái của xã hội, có mối lien hệ, quan hệ chặt chẽ, biện chứng của hiện tượng đó với các hiện tượng xã hội khác, với các điều kiện tồn tại của xã hội. Tình hình tội phạm thể hiện đặc điểm định lượng và định tính thể hiện trong không gian và thời gian, cụ thể ở mỗi thời kỳ, mỗi vùng, lãnh thổ - hành chính nhất định. Các đặc điểm của tội phạm cần được chú ý khi nghiên cứu tình hình tội phạm thì không thể khẳng định nó là một chỉnh thể nhưng có hai phần: phần ẩn và phần hiện (hay còn gọi là phần rõ). Tình hình tội phạm có thể chia tội phạm thành tội phạm ẩn và tội phạm rõ.
Tội phạm rõ là tội phạm đã được xử lý về hình sự và đã được đưa vào thống kê tội phạm. Tội phạm ẩn là các tội đã thực tế xảy ra nhưng không được thể hiện trong thống kê tội phạm vì không được phát hiện, không được xử lý hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm. Phần rõ của tình hình tội phạm 10 là phần mà có thể được khẳng định một cách chắc chắn vì dựa trên các con số thống kê cụ thể. Phần ẩn của tình hình tội phạm là phần mà không thể có được sự khẳng định chắc chắn vì chỉ dựa trên sự suy đoán và chỉ được xác định thông qua đặc điểm định lượng của tình hình tội phạm, lấy phần hiện của tình hình tội phạm làm cơ sở cho việc nghiên cứu đối chứng cho phần rõ.
Phần ẩn của tội phạm là một yếu tố đặc điểm định lượng của tình hình tội phạm. Tội phạm nói chung cũng như nhóm tội phạm hay tội cụ thể đều có phần ẩn. Mức độ ẩn ở những nhóm tội hoặc tội khác nhau thì có những khoảng không gian, đơn vị thời gian khác. Đặc điểm định lượng tiêu biểu của tình hình tội phạm là mức độ, trong một đơn vị thời gian và không gian nhất định cho biết về toàn bộ số nhóm tội phạm hay tội cụ thể do họ thực hiện.
Có thể hiểu là tình hình tội phạm được nghiên cứu đặc điểm định lượng và định tính với các hình thức biểu hiện là mức độ, cơ cấu, tính chất và động thái của tình hình tội phạm là nội dung chủ yếu trên cơ sở phần hiện của tội phạm. Cách nghiên cứu nhìn tổng thể là cơ sở thiết thực và thực tế cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà làm luật đưa ra quyết sách, định hướng phù hợp ở mỗi giai đoạn không gian và thời gian. Ý nghĩa - Kết quả nghiên cứu tình hình tội phạm cho chúng ta “bức tranh” toàn cảnh về tội phạm đã xảy ra, giải thích về mọi biểu hiện của tội phạm trong thực tế đời sống xã hội, biết được cái nhìn về những hành vi nguy hiểm của chủ thể gây cho xã hội ở mức độ cao nhất của con người có đầy đủ năng lực pháp luật.