Chương 1: Tình hình các tội phạm mại dâm trên địa bàn thành phố Hồ Chính Minh từ năm 2011 đến năm 2015. Chương 2: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội phạm về mại dâm và thực trạng hoạt động phòng ngừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2011 đến năm 2015. Chương 3: Dự báo và một số giải pháp tăng cường phòng ngừa các tội phạm về mại dâm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. 6 Chƣơng 1 TÌNH HÌNH CÁC TỘI PHẠM MẠI DÂM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015 1.
Khái niệm về các tội mại dâm và các đặc điểm của các tội mại dâm 1. Khái niệm các tội về mại dâm Mại dâm là thuật ngữ phổ biến, thuật ngữ mại dâm có nguồn gốc là Prostituere, có nghĩa là "bày ra để bán" chỉ việc bán thân một cách tùy tiện, không thích thú, đây là hiện tượng xã hội, là biểu hiện của sự sai lệch về chuẩn mực đạo đức trong xã hội. Có nhiều quan điểm xem xét mại dâm ở các bình diện khác nhau, nhưng đều xác định mại dâm là hoạt động mua bán tình dục. Như vậy: mại dâm là hành vi nhằm thỏa mãn các dịch vụ về tình dục ở các mức độ, hình thức khác nhau như: giao hợp hoặc khiêu dâm, dâm ô, làm tình kể cả cùng giới hay khác giới.
Hành vi mua bán, thỏa mãn nhu cầu tình dục ngoài phạm vi hôn nhân và trái với các quy định pháp luật của nhà nước. Việc quan hệ tình dục được thực hiện trên cơ sở mua bán, có sự thỏa thuận trước. Người bán dâm thu lợi thông qua hành vi làm thỏa mãn nhu cầu tình dục của người khác và được người mua dâm, người tổ chức mại dâm trả hoặc hứa trả một giá trị vật chất nhất định (tiền hoặc vật có giá trị). Tóm lại, mại dâm thực chất là hoạt động mua bán tình dục ngoài phạm vi quan hệ hôn nhân.
Với đặc trưng trên, mại dâm là hành vi chứ không phải con người, nó là hoạt động mua bán tình dục. Các tội phạm về mại dâm đã xuất hiện từ rất lâu và hiện nay vẫn đang tồn tại, gây bức xúc cho xã hội. Tội phạm về mại dâm có rất nhiều khái niệm nhưng không thống nhất. Để phòng, ngừa tội phạm về mại dâm có hiệu quả, trước hết cần có quan điểm rõ ràng phân biệt sự khác nhau giữa tệ nạn mại 7 dâm và tội phạm về mại dâm.
Tệ nạn mại dâm là hiện tượng xã hội tiêu cực có tính phổ biến, gồm những hành vi về hoạt động mua bán tình dục trên cơ sở một giá trị vật chất nhất định ngoài phạm vi hôn nhân, gây hậu quả nghiêm trọng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và ảnh hưởng đến an ninh trận tự, còn tội phạm về mại dâm bao gồm các hành vi về hoạt động mua bán tình dục được quy định và điều chỉnh bằng pháp luật hình sự. Tội phạm về mại dâm là một nhóm tội cụ thể, được quy định trong BLHS, thỏa mãn các điều kiện của tội phạm nói chung được quy định tại khoản 1 Điều 8 " là hành vi nguy hiểm cho xã hội được định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa". Tội phạm với các dấu hiệu đặc trưng cơ bản: một là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ; hai là hành vi được quy định trong BLHS; ba là hành vi có lỗi do người có năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Như vậy, Bộ luật hình sự hiện hành có 3 tội về mại dâm quy định bao gồm: Tội chứa mại dâm - Điều 254; Tội môi giới mại dâm - Điều 255.
Tội mua dâm người chưa thành niên - Điều 256. Ba tội về mại dâm nằm trong chương XVIII: "Các tội phạm về ma túy" của BLHS năm 1999, điều chỉnh các hành vi xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 254 và khoản 1 Điều 255 BLHS thì: 1) Tội chứa mại dâm là hành vi chứa mại dâm; 2) Tội môi giới mại dâm là hành 8 vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt người mại dâm. Theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm ngày 14/3/2003 (Pháp lệnh PCMD) thì: “1) Tội chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm.
2) Tội môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt của người làm trung gian để các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm”. Hiện nay ở Việt Nam còn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội chứa mại dâm, tội môi giới mại dâm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, “1) Tội chứa mại dâm là hành vi hành vi tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho hoạt động mại dâm được thực hiện; 2) Tội môi giới mại dâm là hành vi làm trung gian bằng cách dụ dỗ hoặc dẫn dắt cho hoạt động mại dâm giữa người mua dâm và người bán dâm”. Quan điểm thứ hai cho rằng, “1) Tội chứa mại dâm là hành vi cho thuê chỗ, cho mượn chỗ, bố trí chỗ, bố trí gái mại dâm, tạo điều kiện cho người mua, bán dâm hoạt động; 2) Tội môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ, dẫn dắt, làm trung gian cho người mua dâm và người bán dâm gặp nhau để mại dâm”.
Quan điểm thứ ba cho rằng, “1) Tội chứa mại dâm là hành vi cho thuê, cho mướn địa điểm hoặc tạo các điều kiện vật chất khác cho hoạt động mại dâm; bố trí người canh gác bảo vệ cho hoạt động mại dâm; nhận gái mại dâm là người làm thuê, là nhân viên để che mắt nhà chức trách và cho hoạt động bán dâm; cho gái bán dâm hoạt động ở nơi kinh doanh của mình để trục lợi; 2) Tội môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt mại dâm”. Tuy còn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm, nhưng qua phân tích, chúng tôi thấy các quan điểm trên có những điểm chung đó là: 1) Về tội chứa mại dâm, đều là hành vi tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho hoạt động mại dâm; 2) Về tội môi giới mại dâm, đều là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt mại dâm; 3) Đối với tội mua dâm người chưa thành niên, lỗi của người phạm tội bắt buộc phải là lỗi cố ý. Tức là biết 9 hoặc có thể biết nhưng để mặc (người phạm tội có thể nghi ngờ, nhưng vẫn tiến hành thực hiện hành vi giao cấu, dù biết rằng có thể giao cấu với mình là người chưa thành niên). Lỗi cố ý là người phạm tội biết và nhận thức được hành vi của mình và đã lựa chọn hành vi phạm tội.
Như vậy, lỗi của người phạm tội không thuộc một trong hai trường hợp trên, bởi người phạm tội không biết, không nghi ngờ và do bên bán có hành vi lừa dối, để người phạm tội hoàn toàn tin tưởng rằng gái mại dâm đã thành niên. Vậy, xét về mặt hình thức người phạm tội đã có hành vi mua dâm người chưa thành niên, nhưng xét về mặt lỗi thì lỗi lại là vô ý. Đối với tội "mua dâm người chưa thành niên", không truy tố về hành vi đối với lỗi vô ý. Trên cơ sở khái niệm tội phạm nói chung, các quy định của BLHS, Pháp lệnh PCMD, các quan điểm về khái niệm tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm, chúng tôi đưa ra khái niệm tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm như sau: 1) Tội chứa mại dâm là hành vi tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho hoạt động mại dâm; do người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 hoặc 16 tuổi trở lên cố ý thực hiện; xâm phạm đến trật tự nơi công cộng.
2) Tội môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt của người làm trung gian để các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm; do người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 hoặc 16 tuổi trở lên cố ý thực hiện; xâm phạm đến trật tự nơi công cộng. 3) Tội mua dâm người chưa thành niên: là sự thỏa thuận trả tiền hoặc vật chất khác cho người chưa đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi để thực hiện hành vi giao cấu với người đó. Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thỏa thuận với người chưa thành niên và người chưa thành niên đã nhận lời. Các dấu hiệu pháp lý của các tội mại dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam Bất kỳ tội phạm nào cũng đều xâm hại đến một hoặc một số quan hệ xã hội nhất định được Luật Hình sự bảo vệ bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội đó.
Những quan hệ xã hội được xác định cần bảo vệ bởi các quy phạm pháp luật hình sự bao gồm: “Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” (Điều 8, BLHS). Các tội phạm về mại dâm xâm phạm vào những qui định của Nhà nước về an toàn công cộng, trật tự công cộng. Như vậy khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại, có thể xác định khách thể của tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm là trật tự công cộng. Hành vi mại dâm tác động tiêu cực đến đời sống văn minh, hủy hoại nhân cách con người, gây thiệt hại về vật chất, tinh thần cho cá nhân, gia đình, xã hội là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội, lây truyền bệnh xã hội.