Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Khái niệm, mục đích và ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản 1. Khái niệm phòng ngừa tội cướp giật tài sản Phòng ngừa tội phạm là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, khái niệm thế nào là phòng ngừa tội phạm lại chưa được thống nhất.
Đó là lý do mà hiện nay có rất nhiều quan điểm khi đưa ra khái niệm về phòng ngừa tội phạm. Theo Từ điển Luật học định nghĩa: “Phòng ngừa tội phạm là ngăn ngừa tội phạm và loại trừ các nguyên nhân phát sinh tội phạm bằng toàn bộ những biện pháp liên quan với nhau do cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội tiến hành”. Còn trong khoa học về tội phạm học của Liên Xô trước đây, quan niệm về phòng ngừa tội phạm được dẫn ra như sau: “Phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp có quan hệ tác động lẫn nhau, được tiến hành bởi cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm và hạn chế, loại trừ những nguyên nhân sinh ra tội phạm” [46, tr. Quan điểm khoa học trong sách báo pháp lý một số nước đều thống nhất cho rằng: “phòng ngừa tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, thủ tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm…” hay “không để cho tội phạm gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, thủ tiêu nguyên nhân và kiểm soát được tội phạm, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, cũng như có các biện pháp cải tạo, giáo dục người phạm tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội và cho cộng đồng…” [42, tr.
Một quan điểm khác cho rằng phòng ngừa tội phạm được hiểu theo hai nghĩa: “Theo nghĩa rộng, phòng ngừa tội phạm bao hàm, một mặt không để cho tội phạm xảy ra, thủ tiêu nguyên nhân và điều kiện phạm tội và bằng mọi cách để ngăn chặn tội phạm, kịp thời phát hiện tội phạm, xử lý nghiêm minh các trường hợp 9 phạm tội và cuối cùng là cải tạo, giáo dục người phạm tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội. Còn theo nghĩa hẹp, phòng ngừa tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, không để cho tội phạm gây hậu quả cho xã hội, không để cho thành viên của xã hội phải chịu hình phạt của pháp luật, tiết kiệm được những chi phí cần thiết cho Nhà nước trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và cải tạo giáo dục người phạm tội” [42, tr.TS Võ Khánh Vinh: “Phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống nhiều mức độ và biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội và Nhà nước - xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa (làm yếu; hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội phạm” [44, tr. Các quan điểm trên đều đưa ra khái niệm phòng ngừa tội phạm, mỗi quan điểm đều dựa trên những cơ sở, lý luận riêng. Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng về bản chất, các quan điểm trên đều có một điểm chung là nhằm mục tiêu làm giảm, tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.
Vì vậy, thông qua việc tổng hợp các quan điểm khoa học đã nêu, kết hợp với thực tiễn phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trong thời gian vừa qua, theo tác giả có thể đưa ra khái niệm phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản như sau: Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và của mọi công dân trong xã hội áp dụng bằng cách sử dụng các biện pháp khác nhau nhằm loại trừ, thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội cướp giật tài sản, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội cướp giật tài sản ra khỏi đời sống xã hội. Tội cướp giật tài sản quy định tại Điều 136 của Bộ luật hình sự năm 1999, là một loại tội xâm phạm sở hữu, có tính chất nguy hiểm trong xã hội hiện nay. Cướp giật tài sản là nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát [24, tr. Để phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản có hiệu quả, cần phải xác định các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội phạm này như sau: 10 - Dấu hiệu chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội cướp giật, theo các quy định tại khoản 1 Điều 13, Điều 12 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), là chủ thể thông thường có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 tuổi trở lên.
- Dấu hiệu khách thể của tội phạm: Tội cướp giật tài sản là một tội danh có tính chiếm đoạt, khách thể của tội phạm này chính là quan hệ sở hữu. Người phạm tội thực hiện hành vi cướp giật tài sản đã gây ra thiệt hại về quyền sở hữu của tài sản cho chủ tài sản và sự gây thiệt hại này đã phản ánh đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. - Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm: Theo quy định tại Điều 136 BLHS, hành vi chiếm đoạt của tội cướp giật được thực hiện bằng hình thức công khai và nhanh chóng. Đây là những dấu hiệu đặc trưng, là cơ sở để phân biệt tội cướp giật tài sản với những tội phạm khác.
- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội cướp giật tài sản là lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, người phạm tội biết mình có hành vi công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác, thấy trước hậu quả nguy hiểm do hành vi của mình gây ra nhưng lại mong muốn hậu quả đó xảy ra, mong muốn thực hiện trọn vẹn quá trình phạm tội. Mục đích chiếm đoạt cũng là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. - Dấu hiệu chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội cướp giật, theo các quy định tại khoản 1, Điều 12 BLHS năm 2015.
- Dấu hiệu khách thể của tội phạm: Tội cướp giật tài sản là một tội danh có tính chiếm đoạt, khách thể của tội phạm này chính là quan hệ sở hữu tài sản. Người phạm tội thực hiện hành vi cướp giật tài sản đã gây ra thiệt hại về quyền sở hữu của tài sản cho chủ tài sản và sự gây thiệt hại này đã phản ánh đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. - Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS năm 2015, hành vi chiếm đoạt của tội cướp giật được thực hiện bằng hình thức công khai và nhanh chóng. Đây là những dấu hiệu đặc trưng, là cơ sở để phân biệt tội cướp giật tài sản với những tội phạm khác trong quy định tại BLHS 11 năm 2015.
Và điều 171 BLHS 2015 có quy định khá rõ ràng cụ thể hơn BLHS năm 1999. Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội cướp giật tài sản là lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, người phạm tội biết mình có hành vi công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác, thấy trước hậu quả nguy hiểm do hành vi của mình gây ra nhưng lại mong muốn hậu quả đó xảy ra, mong muốn thực hiện trọn vẹn quá trình phạm tội. Mục đích chiếm đoạt cũng là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này.
Mục đích và ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản Trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng, phòng ngừa tội phạm là hoạt động chủ yếu của các cơ quan chuyên môn, chuyên trách trong công tác bảo vệ pháp luật và phòng chống tội phạm, mà cụ thể là: Công an, Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra, cơ quan Thi hành án hình sự và một số cơ quan Nhà nước khác (Kiểm lâm, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển .) nhằm ba mục đích sau: Một là, từng bước loại trừ và triệt tiêu các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, xóa bỏ các tác nhân là điều kiện tạo thuận lợi việc phát sinh ra tình hình tội cướp giật tài sản. Hai là, nghiên cứu môi trường sống (gia đình - nhà trường - xã hội) tác động đến môi trường yếu tố xung quanh, các nguyên nhân và điều kiện phạm tội và người phạm tội, qua đó hạn chế, ngăn ngừa những hiện tượng có ảnh hưởng bất lợi và không đúng đến việc hình thành các phẩm chất cá nhân tiêu cực chống đối xã hội của bản thân người phạm tội. Ba là, trên cơ sở này, đưa ra các giải pháp tổng thể và có hệ thống phòng ngừa các hiện tượng tiêu cực về tội phạm nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng, các tác nhân ảnh hưởng, cũng như kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và các ngành luật khác. Như vậy, hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa tội cướp giật tài sản nói riêng bao gồm các hoạt động xây dựng cơ sở và các nguyên tắc 12 trong hoạt động phòng ngừa, xác định chủ thể phòng ngừa, lập và xây dựng kế hoạch phòng ngừa đầy đủ, một cách khoa học và có hệ thống các biện pháp phòng ngừa.
Và do đó, nếu các hoạt động này được thực hiện tốt thì có thể từng bước ngăn chặn tội phạm và tình hình tội phạm trong xã hội, không cho tội phạm phát triển, qua đó từng bước đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Thêm vào đó, hoạt động phòng ngừa tội phạm được thực hiện tốt có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hỗ trợ cho các ngành luật khác trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Nhà nước, các tổ chức, cơ quan và mỗi công dân trong xã hội không phải chịu những hậu quả (thiệt hại) mà tội phạm gây ra, cũng như Nhà nước và xã hội không phải mất đi những chi phí trong việc điều tra, truy tố, xét xử; trong việc khắc phục hậu quả của tội phạm gây ra cho xã hội; trong công tác cải tạo, giáo dục và thi hành án đối với người phạm tội.