Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành chăn nuôi lợn giữ vai trò trọng yếu trong cơ cấu nông nghiệp tại Việt Nam, cung cấp nguồn thực phẩm giàu đạm động vật chiếm tỷ trọng lớn trong tiêu dùng hàng ngày, đồng thời tạo ra nguồn phân bón cho trồng trọt và các phụ phẩm cho công nghiệp chế biến. Dẫn liệu từ Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) được tác giả trích dẫn cho thấy, năm 2015 nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của Việt Nam đạt khoảng 2,245 triệu tấn, tăng 1,8% so với năm 2014. Nhằm tối ưu hóa hiệu quả chăn nuôi, công tác cải tạo đàn giống và nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái là nhiệm vụ hàng đầu. Tuy nhiên, bệnh viêm tử cung sau khi sinh là một tổn thương bệnh lý đường sinh dục phổ biến và nghiêm trọng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ khai thác của lợn mẹ và sức sống của lợn con. Bệnh làm giảm tiết sữa hoặc mất sữa hoàn toàn, khiến lợn con theo mẹ bị tiêu chảy, còi cọc, suy dinh dưỡng; đồng thời làm lợn nái chậm động dục trở lại, giảm tỷ lệ thụ thai hoặc dẫn đến vô sinh, buộc cơ sở phải loại thải đàn sớm.
Xuất phát từ thực trạng sản xuất tại địa phương, đề tài được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể sau:
- Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá tỷ lệ cảm nhiễm bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại cơ sở.
- Xác định hiệu lực điều trị của phác đồ điều trị được thử nghiệm.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (yêu cầu):
- Đánh giá được tỷ lệ cảm nhiễm bệnh viêm tử cung ở đàn lợn.
- Xác định được hiệu lực điều trị của phác đồ điều trị.
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái ngoại CP909 (thuộc các giống Yorkshire và Landrace) nuôi sinh sản.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Trại chăn nuôi lợn Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội (cơ sở gia công cho Công ty Chăn nuôi C.P. Việt Nam với quy mô chuồng trại thiết kế cho 1.200 nái cơ bản).
- Thời gian: Thực hiện theo dõi thực địa trực tiếp từ ngày 18/5/2016 đến ngày 18/11/2016 (6 tháng); đồng thời hồi cứu số liệu sổ sách lưu trữ của trang trại trong giai đoạn 3 năm từ 2014 đến tháng 11 năm 2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý thuyết giải phẫu, sinh lý sinh sản và bệnh học thú y chuyên biệt trên lợn:
- Đặc điểm giải phẫu và nội tiết sinh dục lợn nái: Cấu trúc đường sinh dục gồm buồng trứng (Ovarium), ống dẫn trứng (Oviductus), tử cung sừng kép (Uterus), âm đạo (Vagina), tiền đình và âm hộ. Cơ chế điều khiển chu kỳ sinh sản và quá trình sinh đẻ thông qua trục thần kinh - thể dịch cùng các hormone chủ đạo: Estrogen, Progesterone, Oxytocin, Relaxin, Inhibin, FSH và LH.
- Phân loại bệnh lý viêm tử cung: Dựa theo tài liệu bệnh học thú y (Đặng Đình Tín, 1985; Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong, 2000), bệnh được chia thành 3 thể: Viêm nội mạc tử cung (Endometritis - gồm thể cata cấp tính có mủ và thể màng giả), Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis), và Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis).
- Căn nguyên và cơ chế gây bệnh: Vi khuẩn cơ hội xâm nhập qua đường sinh dục lúc cổ tử cung mở (đặc biệt khi thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật, can thiệp đẻ khó bằng tay gây trầy xước niêm mạc, sát nhau, vệ sinh chuồng kém) hoặc nhiễm khuẩn ngược dòng từ đường tiết niệu, đường máu. Độc tố vi khuẩn (đặc biệt là E. coli) ức chế tiết Prolactin gây mất sữa, trong khi viêm cấp tính kích thích tế bào niêm mạc tiết Prostaglandin F2$\alpha$ ($PGF2\alpha$) làm tiêu thể vàng, gây giảm Progesterone dẫn tới sảy thai; ngược lại, thể viêm mãn tính làm giảm phân tiết $PGF2\alpha$, duy trì thể vàng ức chế tiết LH khiến nái không thể động dục trở lại.
- Tiêu chuẩn chẩn đoán: Sử dụng bảng chỉ tiêu phân biệt các thể bệnh nhẹ, vừa, nặng kết hợp cách tính điểm triệu chứng lâm sàng từ ngày 1 đến ngày 5 sau khi sinh của Phòng Kỹ thuật Công ty C.P. Việt Nam (theo dõi số ngày chảy mủ, số ngày bỏ ăn, mức độ sốt với ngưỡng thân nhiệt $\ge 39,8^\circ\text{C}$).
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp dịch tễ học hồi cứu: Thu thập và phân tích dữ liệu lưu trữ từ sổ sách thú y của trang trại trong 3 năm liên tiếp (2014 – 11/2016) về cơ cấu đàn và tỷ lệ mắc bệnh qua các năm.
- Phương pháp theo dõi lâm sàng trực tiếp: Theo dõi thực tế trên 300 lợn nái tại 2 dãy chuồng từ tháng 6 đến tháng 10/2016. Ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh theo tháng, theo lứa đẻ (lứa 1, 2, 3, 4, >5) và theo trường hợp đẻ (đẻ thường tự nhiên so với đẻ có can thiệp móc thai bằng tay).
- Phương pháp thực nghiệm điều trị: Áp dụng phác đồ can thiệp trên 110 lợn nái mắc bệnh được chẩn đoán: tiêm bắp kháng sinh Amoxinject-LA liều 1 ml/10 kg thể trọng; tiêm bắp/mép âm môn hormone Oxytocin liều 5 ml/con; thụt rửa tử cung bằng dung dịch nước muối sinh lý với thể tích 3 - 4 lít/con/ngày; liệu trình kéo dài từ 3 đến 5 ngày tùy mức độ bệnh.
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi thú y (Nguyễn Văn Thiện, 2002), xác định các tham số số trung bình mẫu ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($S_X$), sai số trung bình mẫu ($m_X$) và tỷ lệ phần trăm (%).
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm hệ thống sổ sách theo dõi của Phòng Kế toán và Phòng Kỹ thuật Công ty C.P. Việt Nam tại Trại Bình Minh, kết hợp cùng nhật trình ghi chép lâm sàng trực tiếp của tác giả trong suốt 24 tuần thực tập tại cơ sở.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh chăn nuôi lợn công nghiệp hóa. Đặt vấn đề nhấn mạnh tác hại kinh tế của bệnh viêm tử cung ở đàn nái sinh sản đối với cả nái mẹ và đàn con theo mẹ. Tác giả xác định rõ 2 mục tiêu và 2 yêu cầu cụ thể của chuyên đề nhằm đánh giá tỷ lệ cảm nhiễm và kiểm chứng hiệu quả thực tế của phác đồ điều trị tại Trại Bình Minh.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Phần tổng quan cung cấp bức tranh toàn diện về cơ sở nghiên cứu và hệ thống lý luận khoa học:
- Điều kiện cơ sở thực tập: Trại Bình Minh thành lập năm 2008 tại xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội; diện tích 10,2 ha (đất xây dựng 2,5 ha, cây ăn quả 2,3 ha, lúa 2,4 ha, ao hồ 3 ha). Quy mô chuồng trại khép kín cho 1.200 nái gồm 6 chuồng đẻ (56 ô/chuồng), 2 chuồng chửa (560 ô/chuồng), 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực và 9 chuồng thịt. Nhân sự gồm 1 chủ trại, 1 quản lý, 3 quản lý kỹ thuật, 1 kế toán, 1 bảo vệ, 7 công nhân và 19 sinh viên thực tập. Năng suất đạt 2,45 - 2,47 lứa/năm; số con sơ sinh bình quân 11,23 con/đàn; cai sữa 10,7 con/đàn lúc 21 - 26 ngày tuổi.
- Cơ sở khoa học: Phân tích chi tiết giải phẫu học cơ quan sinh dục cái; sinh lý chu kỳ tính (kéo dài 18 - 22 ngày, trung bình 21 ngày, gồm 4 giai đoạn: trước động dục, động dục, sau động dục, nghỉ ngơi); sinh lý đẻ (kéo dài 2 - 6 giờ); sinh lý lâm sàng (thân nhiệt bình thường của lợn 38,5 - 39,5$^\circ\text{C}$, tần số hô hấp 8 - 18 lần/phút); bệnh học 3 thể viêm tử cung (viêm nội mạc, viêm cơ, viêm tương mạc) và hậu quả dẫn đến hội chứng MMA (Mastitis - Metritis - Agalactia).
- Tổng quan nghiên cứu: Điểm luận các công trình trong nước (Trần Ngọc Bích, 2016; Nguyễn Văn Thanh, 2002, 2003, 2007, 2015, 2016; Đào Trọng Đạt, 2000; Lê Văn Năm, 1997; Trần Tiến Dũng, 2002) và quốc tế (Madec và Neva, 1995; Xobko, 1987; Kaminski) ghi nhận tỷ lệ viêm đường sinh dục dao động từ 30% đến 74,13%, làm rõ vai trò của vi khuẩn đường niệu, tổn thương cơ học khi can thiệp đẻ khó và các phác đồ dùng thuốc sát trùng, kháng sinh.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành
Chương phương pháp xác định đối tượng là đàn nái CP909 tại Trại Bình Minh từ 18/5/2016 đến 18/11/2016. Quy định các chỉ tiêu theo dõi gồm tỷ lệ mắc bệnh qua 3 năm, tỷ lệ mắc theo tháng, theo mức độ bệnh, theo lứa đẻ, theo trường hợp đẻ, kết quả điều trị và các chỉ tiêu sinh sản sau điều trị.
Chương này cũng mô tả chi tiết công tác vệ sinh phòng dịch và các hoạt động kiêm nhiệm của tác giả:
- Vệ sinh tiêu độc: Thực hiện trong 24 tuần gồm phun sát trùng chuồng trại bằng Omnicide tỷ lệ 1/400 (4 lần/tuần, tổng 96 lần); rắc vôi bột (2 lần/tuần, tổng 48 lần); vệ sinh hố bể sát trùng (1 lần/tuần, tổng 24 lần).
- Lịch vaccine cho đàn nái: Dịch tả (SFV) tiêm tuần 10 sau phối; Tai xanh (PRRS) tiêm định kỳ ngày 15 các tháng 3, 6, 9, 12; Lở mồm long móng (FMD) và Giả dại (AD) tiêm tuần 12 sau phối; Khô thai (Parvo) tiêm sau đẻ 15 ngày.
- Công tác kiêm nhiệm khác: Đỡ đẻ 56 nái (55 ca an toàn, tỷ lệ 98,21%); can thiệp các ca đẻ khó đạt thành công 100%; tiêm sắt Nova-Fe+B12, cắt đuôi, mài nanh cho 921 lợn con (an toàn 100%); thiến 87 lợn đực con (thành công 100%); cho uống phòng cầu trùng 784 con (khỏi 758 con, tỷ lệ 96,68%); điều trị bệnh phân trắng lợn con do E. coli bằng MD NOR 100 và hội chứng tiêu chảy bằng bù điện giải kết hợp Amoxicillin.
Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả
Tác giả trình bày các số liệu khảo sát và thực nghiệm lâm sàng:
- Tỷ lệ mắc bệnh qua 3 năm (2014 - 11/2016): Năm 2014 có 563/1.206 nái mắc (46,68%); năm 2015 có 503/1.210 nái mắc (41,57%); 11 tháng năm 2016 có 507/1.322 nái mắc (38,35%). Tỷ lệ bệnh có xu hướng giảm dần qua các năm.
- Tỷ lệ mắc bệnh theo tháng (trên 300 nái theo dõi): Tỷ lệ mắc chung đạt 36,67% (110/300 con). Tháng 6 có tỷ lệ cao nhất với 45,00% (27/60 con) do thời tiết nắng nóng gay gắt; tháng 7 đạt 38,33% (23/60 con); tháng 8 đạt 36,67% (22/60 con); tháng 9 và tháng 10 ghi nhận thấp nhất với cùng mức 31,67% (19/60 con).
- Cường độ mắc bệnh: Trong 110 nái mắc bệnh, thể nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất với 21,67% (65 con); thể vừa chiếm 12,33% (37 con); thể nặng chiếm tỷ lệ thấp nhất với 2,67% (8 con).
- Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa đẻ: Lứa 1 có tỷ lệ mắc cao nhất đạt 54,35% (25/46 con); lứa >5 cao thứ hai đạt 48,05% (37/77 con). Các lứa 2, 3, 4 có tỷ lệ thấp hơn rõ rệt: lứa 2 là 28,33% (17/60 con); lứa 4 là 29,03% (18/62 con); lứa 3 thấp nhất là 23,63% (13/55 con).
- Tỷ lệ mắc theo trường hợp đẻ: Đẻ thường mắc 22,22% (36/162 con); đẻ có can thiệp móc thai bằng tay mắc tới 53,62% (74/138 con), khẳng định thao tác can thiệp cơ học bằng tay là nguyên nhân trực tiếp làm tăng nguy cơ viêm nhiễm.
- Hiệu quả điều trị: Tổng số 110 con điều trị có 106 con khỏi bệnh, đạt tỷ lệ 96,36%. Thể nhẹ khỏi 100% (65/65 con) với thời gian điều trị bình quân 3 ngày; thể vừa khỏi 94,59% (35/37 con) với thời gian 4 ngày; thể nặng khỏi 75,00% (6/8 con) với thời gian 5 ngày.
- Khả năng sinh sản sau điều trị: Toàn bộ 106 nái được điều trị khỏi đều động dục trở lại (tỷ lệ 100%) trong khoảng 6 - 7,5 ngày sau khi cai sữa; tỷ lệ phối giống đạt kết quả mang thai đạt 100% (106/106 con).
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Chương cuối khái quát các kết luận dịch tễ và điều trị; đồng thời đưa ra kiến nghị với trang trại cần tuân thủ nghiêm ngặt quy trình vệ sinh chuồng đẻ, kiểm soát tiểu khí hậu và đặc biệt hạn chế tối đa việc can thiệp móc thai bằng tay khi lợn đẻ nhằm phòng ngừa tổn thương đường sinh dục.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết các chỉ tiêu dịch tễ và đánh giá hiệu lực can thiệp điều trị lâm sàng tại Trại Bình Minh. Các số liệu chính được tổng hợp trong bảng dưới đây:
| Chỉ tiêu phân loại | Nhóm theo dõi | Số nái kiểm tra (con) | Số nái mắc bệnh (con) | Tỷ lệ mắc (%) | Kết quả điều trị khỏi (con/tổng) | Tỷ lệ khỏi (%) | Thời gian điều trị (ngày) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hồi cứu theo năm | Năm 2014 | 1.206 | 563 | 46,68 | - | - | - |
| Năm 2015 | 1.210 | 503 | 41,57 | - | - | - | |
| 11 tháng năm 2016 | 1.322 | 507 | 38,35 | - | - | - | |
| Theo tháng (năm 2016) | Tháng 6 | 60 | 27 | 45,00 | - | - | - |
| Tháng 7 | 60 | 23 | 38,33 | - | - | - | |
| Tháng 8 | 60 | 22 | 36,67 | - | - | - | |
| Tháng 9 | 60 | 19 | 31,67 | - | - | - | |
| Tháng 10 | 60 | 19 | 31,67 | - | - | - | |
| Theo mức độ viêm | Thể nhẹ | 300 | 65 | 21,67 | 65/65 | 100,00 | 3 |
| Thể vừa | 300 | 37 | 12,33 | 35/37 | 94,59 | 4 | |
| Thể nặng | 300 | 8 | 2,67 | 6/8 | 75,00 | 5 | |
| Theo lứa đẻ | Lứa 1 | 46 | 25 | 54,35 | - | - | - |
| Lứa 2 | 60 | 17 | 28,33 | - | - | - | |
| Lứa 3 | 55 | 13 | 23,63 | - | - | - | |
| Lứa 4 | 62 | 18 | 29,03 | - | - | - | |
| Lứa >5 | 77 | 37 | 48,05 | - | - | - | |
| Theo trường hợp đẻ | Đẻ thường | 162 | 36 | 22,22 | - | - | - |
| Đẻ có can thiệp | 138 | 74 | 53,62 | - | - | - | |
| Tính chung thực nghiệm | Toàn đàn theo dõi | 300 | 110 | 36,67 | 106/110 | 96,36 | 3 - 5 |
Các giải pháp và kiến nghị kỹ thuật do tác giả đề xuất bao gồm:
- Quy trình phòng bệnh 5 bước: Bước 1: Phối giống đúng kỹ thuật, vô trùng que phối; Bước 2: Bổ sung dinh dưỡng cân đối cho nái chửa, tránh để nái quá béo hoặc quá gầy; Bước 3: Vệ sinh tiêu độc chuồng đẻ, lau rửa sạch phần mông, âm hộ và bầu vú nái trước và sau khi sinh, tuyệt đối không dùng tay móc thai nếu không phải ca đẻ khó thực sự; Bước 4: Tiêm dự phòng Oxytocin (5 ml/con) khi nái đẻ được 1 - 2 con và tiêm Amoxinject-LA (1 ml/10 kg thể trọng) ngay sau khi đẻ xong; Bước 5: Sau đẻ 24 giờ, tiến hành thụt rửa tử cung bằng 3 - 4 lít nước muối sinh lý/ngày, liên tục trong 4 ngày.
- Quản lý đỡ đẻ: Chấn chỉnh thói quen tùy tiện đưa tay vào đường sinh dục lợn nái để kiểm tra hoặc lôi thai của công nhân chuồng đẻ; sát trùng dụng cụ và tay đỡ đẻ nghiêm ngặt bằng dung dịch Destol và bôi trơn Vaseline khi bắt buộc phải can thiệp ngoại khoa.
- Áp dụng phác đồ điều trị: Ứng dụng kháng sinh Amoxinject-LA kết hợp Oxytocin và thụt rửa nước muối sinh lý ngay khi phát hiện bệnh ở thể nhẹ để đạt hiệu quả điều trị tối ưu (100%), rút ngắn thời gian điều trị còn 3 ngày và giảm chi phí thuốc.
Đóng góp của khóa luận: Cung cấp bộ số liệu dịch tễ học thực tế có độ tin cậy cao về tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn nái ngoại nuôi theo phương thức công nghiệp tại Hà Nội; chứng minh bằng số liệu thực nghiệm mối nguy hại của việc can thiệp móc thai sai kỹ thuật (tỷ lệ mắc bệnh tăng lên 53,62%); đồng thời xác thực tính hiệu quả của phác đồ Amoxinject-LA giúp nái hồi phục khả năng sinh sản đạt tỷ lệ thụ thai 100% ở chu kỳ kế tiếp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi một trang trại chăn nuôi gia công duy nhất (Trại Bình Minh) trên giống lợn ngoại CP909, thời gian thực nghiệm lâm sàng diễn ra trong 6 tháng. Đề tài chỉ đánh giá hiệu lực của một phác đồ điều trị đơn lẻ, chẩn đoán dựa trên các triệu chứng lâm sàng và thang điểm quan sát của cơ sở, chưa tiến hành lấy mẫu dịch viêm để nuôi cấy, phân lập định danh thành phần loài vi khuẩn gây bệnh trong phòng thí nghiệm và chưa làm kháng sinh đồ để đánh giá độ mẫn cảm/kháng thuốc.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát trên các quy mô chăn nuôi và các giống lợn nái khác nhau; tiến hành phân lập vi sinh vật học từ mẫu sản dịch để xác định các chủng vi khuẩn chiếm ưu thế; thực hiện thử nghiệm kháng sinh đồ so sánh hiệu lực giữa các nhóm thuốc kháng sinh mới; đồng thời theo dõi dài hạn các chỉ tiêu sinh sản của lợn con (số con sơ sinh sống/ổ, trọng lượng sơ sinh, tỷ lệ sống đến cai sữa) sinh ra từ các nái đã được điều trị khỏi ở lứa đẻ tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho các đối tượng và mục đích cụ thể sau:
- Đối tượng sử dụng: Bác sĩ thú y, kỹ sư chăn nuôi, cán bộ kỹ thuật phụ trách chuồng đẻ tại các trang trại nuôi lợn nái sinh sản quy mô công nghiệp; sinh viên và học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y thực hiện khóa luận tốt nghiệp hoặc chuyên đề nghiên cứu về bệnh lý đường sinh sản gia súc.
- Nội dung tham khảo giá trị: Thang điểm chẩn đoán lâm sàng phân loại 3 thể bệnh viêm tử cung; quy trình phòng bệnh 5 bước gắn liền với chu kỳ đẻ của lợn nái; bảng dẫn liệu so sánh nguy cơ viêm tử cung giữa đẻ thường và đẻ có can thiệp cơ học; cùng hướng dẫn liều lượng và cách dùng của phác đồ phối hợp Amoxinject-LA, Oxytocin và dung dịch nước muối sinh lý trong điều trị thực địa.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái tại Trại Bình Minh biến động ra sao trong giai đoạn 2014 – 11/2016? Dữ liệu sổ sách ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh có xu hướng giảm dần qua 3 năm: năm 2014 đạt 46,68% (563/1.206 nái); năm 2015 giảm xuống 41,57% (503/1.210 nái); và tính đến tháng 11 năm 2016 giảm còn 38,35% (507/1.322 nái). Kết quả này đạt được nhờ trại đẩy mạnh công tác vệ sinh thú y trước, trong và sau khi đẻ, đồng thời phát hiện và điều trị bệnh sớm.
2. Can thiệp móc thai bằng tay khi lợn đẻ làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm tử cung như thế nào? Số liệu thực nghiệm trên 300 nái cho thấy, nhóm nái đẻ có can thiệp dùng tay móc thai có tỷ lệ mắc viêm tử cung lên tới 53,62% (74/138 con), cao gấp hơn 2,4 lần so với nhóm nái đẻ thường tự nhiên (chỉ mắc 22,22%, tương ứng 36/162 con). Nguyên nhân do công nhân can thiệp khi không thực sự đẻ khó, thao tác không sát trùng tay kỹ hoặc gây xây xát, rách niêm mạc đường sinh dục.
3. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung biến động theo lứa đẻ của lợn nái như thế nào? Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở lứa đẻ thứ 1 (54,35%) do đường sinh dục còn hẹp, co bóp đẩy thai dễ gây tổn thương niêm mạc và cổ tử cung mở lâu. Tỷ lệ cao thứ hai ở lứa đẻ trên 5 (>5 lứa) với 48,05% do nái già sức rặn yếu, tử cung co bóp kém dễ gây sót nhau và thời gian hồi phục đóng cổ tử cung kéo dài. Các lứa đẻ từ 2 đến 4 có tỷ lệ mắc thấp hơn rõ rệt (lứa 2 là 28,33%; lứa 4 là 29,03%; thấp nhất là lứa 3 với 23,63%).
4. Phác đồ điều trị bằng Amoxinject-LA kết hợp Oxytocin và nước muối sinh lý đạt hiệu quả cụ thể ra sao? Phác đồ đạt tỷ lệ khỏi bệnh chung là 96,36% (106/110 con). Trong đó: thể nhẹ khỏi 100% (65/65 con) sau 3 ngày điều trị; thể vừa khỏi 94,59% (35/37 con) sau 4 ngày; thể nặng khỏi 75,00% (6/8 con) sau 5 ngày. Đàn nái khỏi bệnh phục hồi tốt, thời gian động dục trở lại sau cai sữa từ 6 đến 7,5 ngày và tỷ lệ phối giống đạt kết quả mang thai đạt 100% (106/106 con).
5. Chương trình tiêm phòng vaccine cho đàn lợn nái sinh sản tại Trại Bình Minh gồm những loại nào và thời điểm tiêm ra sao? Quy trình phòng bệnh bằng vaccine cho nái tại trại gồm: vaccine Dịch tả (SFV) tiêm ở tuần thứ 10 sau khi phối giống; vaccine Tai xanh (PRRS) tiêm định kỳ vào ngày 15 các tháng 3, 6, 9, 12; vaccine Lở mồm long móng (FMD) và vaccine Giả dại (AD) tiêm ở tuần thứ 12 sau khi phối giống; vaccine Khô thai (Parvo) tiêm vào thời điểm 15 ngày sau khi sinh con.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hồ Thị Xuân đã phản ánh toàn diện tình hình dịch tễ bệnh viêm tử cung trên đàn nái ngoại CP909 tại Trại Bình Minh với tỷ lệ mắc bệnh 36,67% trên quy mô theo dõi 300 con, đồng thời chỉ rõ thao tác can thiệp móc thai bằng tay là nguyên nhân nhân tạo chủ yếu khiến tỷ lệ mắc bệnh tăng vọt lên 53,62%. Đề tài đã thử nghiệm thành công phác đồ điều trị kết hợp giữa kháng sinh Amoxinject-LA, hormone Oxytocin và thụt rửa tử cung bằng nước muối sinh lý, mang lại tỷ lệ khỏi bệnh đạt 96,36% và bảo tồn hoàn toàn khả năng sinh sản của đàn nái sau điều trị (100% động dục trở lại và phối giống đạt). Công trình là tài liệu thực nghiệm có giá trị thực tiễn cao, cung cấp cơ sở khoa học giúp các cơ sở chăn nuôi lợn công nghiệp chuẩn hóa quy trình đỡ đẻ, giảm thiểu can thiệp cơ học và kiểm soát hiệu quả bệnh lý sinh sản.