Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, chăn nuôi lợn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm và phát triển kinh tế. Để đáp ứng nhu cầu con giống thương phẩm chất lượng cao cho các trang trại và hộ chăn nuôi, việc duy trì và phát triển đàn lợn nái sinh sản là yêu cầu thiết yếu. Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất trong chăn nuôi lợn nái tập trung là tỷ lệ mắc các bệnh đường sinh sản còn cao. Các giống lợn ngoại nhập có năng suất sinh sản cao nhưng mức độ thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của Việt Nam còn hạn chế, sức đề kháng giảm trong giai đoạn sinh sản.

Quá trình sinh đẻ tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập vào đường sinh dục, gây ra các bệnh nhiễm trùng sau đẻ như viêm âm môn, viêm âm đạo, viêm tử cung và viêm vú. Nếu không được can thiệp kịp thời, bệnh có thể dẫn đến các biến chứng như mất sữa, hội chứng MMA (Metritis - Mastitis - Agalactia), rối loạn chu kỳ sinh dục, chậm sinh, vô sinh hoặc nhiễm trùng huyết. Xuất phát từ thực tế sản xuất tại cơ sở, đề tài "Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại lợn Kiên Hảo - huyện Văn Giang – tỉnh Hưng Yên" được thực hiện.

Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề được xác định cụ thể:

  1. Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại lợn Kiên Hảo, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
  2. Xác định tình hình và tỷ lệ mắc một số bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại cơ sở.
  3. Áp dụng và theo dõi hiệu lực của các phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn tại trang trại.
  4. Rèn luyện và hoàn thiện kỹ năng thực hành lâm sàng, thao tác thú y trong chăn nuôi tập trung.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản và đàn lợn con theo mẹ.
  • Phạm vi không gian: Trại lợn Kiên Hảo thuộc Công ty sản xuất và dịch vụ thương mại Ngọc Linh, đặt tại xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
  • Phạm vi thời gian: Từ ngày 24 tháng 07 năm 2020 đến ngày 03 tháng 01 năm 2021 (thời gian thực tập 5 tháng).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết của khóa luận dựa trên các tài liệu chuyên ngành chăn nuôi và thú y:

  • Đặc điểm sinh lý thành thục về tính và thành thục về thể vóc của lợn nội và lợn ngoại (theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2006; Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, 2003; Nguyễn Đức Hùng và cộng sự, 2003).
  • Quy trình kỹ thuật chăm sóc, quản lý và nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái chửa, nái đẻ, nái nuôi con và lợn con theo mẹ (theo Trần Văn Phùng và cộng sự, 2002, 2004; Nguyễn Như Pho, 2002; Lê Hồng Mận, 2002).
  • Bệnh học thú y về các bệnh sinh sản ở lợn nái (viêm tử cung, viêm vú, sát nhau) và các bệnh truyền nhiễm, rối loạn tiêu hóa, vận động ở lợn con (tiêu chảy do vi khuẩn Escherichia coli, Salmonella, Clostridium; viêm khớp do Streptococcus suis) (theo Nguyễn Bá Hiên và cộng sự, 2012; Nguyễn Văn Thanh và cộng sự, 2016; Trần Thị Dân, 2004; Trịnh Đình Thâu và cộng sự, 2010; Phạm Chúc Trinh Bạch, 2011).
  • Tổng quan nghiên cứu trong nước và quốc tế về các hội chứng rối loạn sinh sản (PRRS, Parvovirus, Leptospirosis, MMA) và kỹ thuật chăn nuôi lợn công nghiệp (theo Andrew Gresham, 2003; Jan Gordon, 1997).

Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu bao gồm:

  • Phương pháp điều tra gián tiếp: Thu thập và tổng hợp số liệu thứ cấp qua hệ thống sổ sách lưu trữ của trang trại về quy mô đàn, cơ cấu đàn lợn trong 3 năm liên tiếp (2018 - 2020).
  • Phương pháp điều tra và theo dõi trực tiếp:
    • Lập sổ sách ghi chép, theo dõi lâm sàng hàng ngày trên từng cá thể nái đẻ và lợn con theo mẹ (số tai, lứa đẻ, ngày đẻ, số con sinh ra, số con cai sữa, tình trạng sức khỏe).
    • Phương pháp chẩn đoán lâm sàng: Quan sát các biểu hiện toàn thân (thân nhiệt, hô hấp, trạng thái ăn uống) và cục bộ (màu sắc, tính chất dịch bài xuất từ đường sinh dục 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều; tình trạng sưng, nóng, đỏ, đau của bầu vú; thời gian bong nhau sau đẻ; kiểm tra tính chất phân và khớp chân của lợn con).
    • Phương pháp can thiệp kỹ thuật và điều trị: Trực tiếp thực hiện các biện pháp hộ lý, vệ sinh sát trùng, tiêm phòng vắc xin, thủ thuật ngoại khoa cơ bản (mài nanh, cắt đuôi, bấm tai, thiến đực) và áp dụng các phác đồ dùng thuốc (kháng sinh, kháng viêm, hormone, thuốc trợ sức) theo hướng dẫn của kỹ thuật viên trang trại.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu quản lý chăn nuôi của Trại lợn Kiên Hảo và số liệu theo dõi trực tiếp trên 262 lợn nái và 3.014 lợn con.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được xử lý thống kê mô tả, tính tỷ lệ phần trăm (%) bằng máy tính cầm tay Casio.

Nội dung chính theo từng phần

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu kiểm soát dịch bệnh sinh sản trong chăn nuôi lợn công nghiệp quy mô trang trại; xác định rõ mục đích, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề tốt nghiệp.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng hợp thông tin về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên (khí hậu nhiệt đới gió mùa chia làm 2 mùa: hè nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10, đông lạnh khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau). Mô tả cơ cấu tổ chức trang trại Kiên Hảo gồm 43 nhân sự (1 chủ trại, 1 kỹ sư trưởng, 3 kỹ sư, 2 nhân viên văn phòng, 1 nhà bếp, 2 nhân viên bảo dưỡng, 33 lao động phổ thông).

Hệ thống cơ sở vật chất xây dựng trên diện tích 4 ha (2,5 ha khu chuồng trại chăn nuôi, 1 ha ao cá, 0,5 ha khu điều hành và sinh hoạt). Khu chuồng khép kín gồm: 5 chuồng đẻ (3 chuồng 66 ô, 2 chuồng 60 ô), 2 chuồng bầu (1.200 ô), 6 chuồng thịt (mỗi chuồng 10 ô, nuôi 500 - 600 con/chuồng), 1 chuồng cai sữa (2 ngăn, 750 con/ngăn), 1 chuồng tân đáo cách ly (50 - 70 con) và 1 chuồng đực giống (70 ô). Hệ thống trang bị giàn mát, quạt thông gió công nghiệp, máy phát điện dự phòng, nước uống qua xử lý khử trùng.

Trình bày chi tiết cơ sở lý luận về sinh lý sinh sản của lợn nái, các quy trình chăm sóc, khẩu phần thức ăn hỗn hợp De Heus theo từng giai đoạn, quy trình đỡ đẻ, can thiệp đẻ khó, quy trình chăm sóc lợn con từ sơ sinh đến cai sữa (21 - 26 ngày tuổi), lịch vắc xin phòng bệnh và cơ chế bệnh sinh của các bệnh viêm tử cung, viêm vú, sát nhau, tiêu chảy, viêm khớp.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp

Xác định cụ thể các nội dung triển khai: Đánh giá cơ cấu đàn qua 3 năm; quy trình chăm sóc nuôi dưỡng nái và lợn con; công tác vệ sinh thú y, tiêm phòng vắc xin; theo dõi tỷ lệ mắc và triệu chứng lâm sàng của các bệnh sinh sản; thực hiện các phác đồ điều trị bằng thuốc thú y chuyên dụng. Trình bày các công thức tính toán tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ khỏi bệnh.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Trình bày, phân tích toàn bộ số liệu thu thập được từ thực tế điều tra và thực nghiệm tại trại lợn Kiên Hảo trong giai đoạn 2018 - 2020 và 5 tháng thực tập:

  • Biến động số lượng đàn lợn qua 3 năm.
  • Kết quả trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 262 lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ.
  • Tỷ lệ đẻ bình thường và tỷ lệ đẻ khó cần can thiệp sản khoa.
  • Tỷ lệ hoàn thành công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại, lịch khử trùng định kỳ trong tuần và xử lý nguồn nước uống bằng Chlorine (nồng độ 12g/lít).
  • Kết quả tiêm phòng vắc xin Suyễn, Circovirus và các thủ thuật chăm sóc lợn con sơ sinh.
  • Thống kê tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú, sát nhau trên đàn lợn nái và phác đồ điều trị lâm sàng.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu chuyên đề đặt ra, rút ra các bài học kỹ thuật trong công tác đỡ đẻ, vệ sinh phòng dịch và đưa ra đề xuất đối với trang trại nhằm khắc phục khó khăn về thiết bị xuống cấp và quy trình xử lý chất thải.


Kết quả và đóng góp

1. Số liệu kết quả thực nghiệm và khảo sát

Chỉ tiêu theo dõi Năm 2018 Năm 2019 5 tháng đầu năm 2020
Lợn đực giống (con) 21 20 25
Lợn nái hậu bị (con) 89 89 210
Lợn nái sinh sản (con) 1.008 987 927
Lợn con (con) 26.625 27.564 10.873
Tổng đàn (con) 27.743 28.660 12.035

Số lượng lợn nái sinh sản trực tiếp chăm sóc, theo dõi sinh sản trong 5 tháng thực tập là 262 con, với kết quả cụ thể:

  • Tổng số lợn con sinh ra: 3.014 con; tổng số lợn con cai sữa: 2.924 con.
  • Tỷ lệ nái đẻ bình thường: 241 con, đạt tỷ lệ 91,85%.
  • Tỷ lệ nái đẻ khó phải can thiệp: 21 con, chiếm tỷ lệ 8,02% (dao động qua các tháng từ 6,06% đến 9,25%).
Bệnh sản khoa trên lợn nái Số lợn theo dõi (con) Số nái mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc (%)
Viêm tử cung 262 21 8,01
Viêm vú 262 6 2,30
Sát nhau 262 4 1,52

Kết quả thực hiện công tác vệ sinh thú y, tiêm phòng và thủ thuật trên đàn lợn:

  • Vệ sinh chuồng trại hàng ngày: Thực hiện 134/134 lần (đạt 100%).
  • Quét và rắc vôi bột đường đi: Thực hiện 105/105 lần (đạt 100%).
  • Phun thuốc sát trùng định kỳ: Thực hiện 51/51 lần (đạt 100%).
  • Tiêm vắc xin Suyễn (Hylogen) cho lợn con: Tiêm 702 con, an toàn/khỏi 691 con (đạt 98,40%).
  • Tiêm vắc xin Circo (Circovac) cho lợn con: Tiêm 302 con, an toàn/khỏi 286 con (đạt 94,70%).
  • Mài nanh cho lợn con: 500 con, an toàn 489 con (đạt 97,80%).
  • Xịt men/thuốc hỗ trợ đường ruột (Smecta): 712 con, an toàn 712 con (đạt 100%).
  • Tiêm Fe-Dextran và cắt đuôi: 631 con, an toàn 631 con (đạt 100%).
  • Nhỏ thuốc phòng cầu trùng: 490 con, an toàn 482 con (đạt 98,36%).
  • Thiến lợn đực thương phẩm: 167 con, an toàn 160 con (đạt 95,80%).

2. Các quy trình kỹ thuật và phác đồ điều trị tác giả đã áp dụng

  • Quy trình dinh dưỡng cho lợn nái nuôi con: Sử dụng thức ăn hỗn hợp De Heus 3060. Trước đẻ cho ăn 2,5 kg/ngày; ngày dự kiến đẻ giảm xuống 2,0 kg; ngày đẻ cho uống nước ấm pha muối/cháo loãng hoặc 2,5 kg thức ăn; từ ngày thứ 2 sau đẻ tăng dần 0,5 kg/ngày (ngày 2: 3,0 kg; ngày 3: 3,5 kg; ngày 4: 4,0 kg; ngày 5: 4,5 kg; ngày 6: 5,0 kg; ngày 7: 5,5 kg) đến ngày thứ 8 trở đi duy trì 6,0 kg/ngày; ngày cai sữa cắt giảm còn 0 - 0,5 kg.
  • Quy trình dùng thuốc cho nái sinh sản:
    • Trước đẻ 1 tuần và sau đẻ 3 ngày: Trộn thức ăn kháng sinh (Amoxicillin + Dynamutilin hoặc Amoxicillin + Valosin).
    • Khi bắt đầu đẻ: Tiêm bắp 20 ml Dufamox-G 150/40 (Amoxicillin + Gentamycin), truyền dịch mặn/ngọt trợ sức, tiêm 2 ml Oxytocin vào mép âm môn để thúc đẻ và kích thích tiết sữa (khoảng cách giữa 2 mũi tối thiểu 1 giờ).
    • Ngày thứ 2: Tiêm Oxytocin kết hợp thuốc trợ sức (KC Amin, B1+C, Catosal hoặc Canxi B12). Nếu nghi sót nhau/thai, tiêm 2 ml Hanprost.
    • Ngày thứ 3 và ngày thứ 5: Tiêm nhắc lại Dufamox.
  • Phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung: Tiêm bắp Ceftifur (liều 1 ml/10 kg thể trọng), tiêm Diclofenac (1 ml/10 kg thể trọng), tiêm Oxytocin (2 ml/con) vào mép âm môn, kết hợp thụt rửa tử cung bằng nước muối sinh lý (3 - 4 lít/con). Liệu trình thực hiện 1 lần/ngày, kéo dài liên tục 3 - 5 ngày.
  • Phác đồ điều trị viêm vú: Vắt cạn sữa ở bầu vú viêm, chườm nước đá lạnh kết hợp xoa bóp cục bộ; tiêm bắp toàn thân Penstep (1 ml/10 kg thể trọng) kết hợp Diclofenac (1 ml/10 kg thể trọng) liên tục 3 - 5 ngày.
  • Phác đồ điều trị sát nhau: Thụt rửa tử cung bằng dung dịch thuốc tím KMnO4 0,1% (2 - 4 lít/con), tiêm bắp Diclofenac (1 ml/10 kg thể trọng), tiêm Oxytocin (2 ml/con) mép âm môn, tiêm kháng sinh toàn thân Dufamox (1 ml/10 kg thể trọng) phòng nhiễm trùng và truyền dịch trợ sức.

3. Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã hệ thống hóa và chứng minh tính hiệu quả của việc áp dụng đồng bộ quy trình an toàn sinh học, kỹ thuật can thiệp đỡ đẻ và các phác đồ điều trị kháng sinh kết hợp kháng viêm, thụt rửa cục bộ trên đàn nái ngoại nuôi công nghiệp tại địa bàn tỉnh Hưng Yên. Các số liệu thu thập phản ánh thực trạng bệnh lý sản khoa tại cơ sở, cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc điều chỉnh quy trình quản lý đàn nái sinh sản tại trang trại.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của khóa luận:

  • Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại một trang trại trong khoảng thời gian 5 tháng; có những tháng gián đoạn số liệu nái đẻ (tháng 7 và tháng 10 ghi nhận n = 0 do chu kỳ quay vòng đàn của các chuồng).
  • Việc chẩn đoán các bệnh viêm tử cung, viêm vú, tiêu chảy và viêm khớp chủ yếu dựa trên triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học quan sát tại trại, chưa có điều kiện mổ khám bệnh tích hay tiến hành các xét nghiệm vi sinh vật học (phân lập vi khuẩn, làm kháng sinh đồ) trong phòng thí nghiệm.
  • Hạ tầng trang trại xây dựng từ năm 2009 (11 năm sử dụng) nên một số thiết bị chuồng nuôi bị xuống cấp, khu vực xử lý rác thải và xác lợn chết còn hạn chế, ảnh hưởng nhất định đến tỷ lệ chết trung bình của đàn.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng thời gian theo dõi liên tục trong nhiều năm để đánh giá chu kỳ dịch tễ theo các mùa vụ thời tiết khác nhau.
  • Kết hợp lấy mẫu bệnh phẩm dịch viêm tử cung, phân lợn tiêu chảy và dịch khớp để nuôi cấy, định danh chính xác các chủng vi khuẩn (E. coli, Salmonella, Streptococcus suis, Staphylococcus aureus, Streptococcus agalactiae) và kiểm tra mức độ mẫn cảm kháng sinh nhằm xây dựng phác đồ điều trị tối ưu nhất.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thực tiễn đối với:

  • Sinh viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y làm tài liệu học tập, thực tập tốt nghiệp và tham khảo phương pháp theo dõi lâm sàng tại trang trại chăn nuôi công nghiệp.
  • Cán bộ kỹ thuật, kỹ sư chăn nuôi và chủ trang trại nuôi lợn nái sinh sản trong việc áp dụng định mức khẩu phần ăn De Heus theo từng ngày sau sinh, xây dựng lịch tiêm phòng vắc xin chi tiết cho nái chửa và lợn con, cũng như quy trình can thiệp ca đẻ khó và xử lý các bệnh viêm nhiễm sinh sản thường gặp.

Câu hỏi thường gặp

1. Lịch tiêm vắc xin cho đàn lợn nái chửa tại trại lợn Kiên Hảo được phân bổ theo các tuần tuổi thai như thế nào? Tại trại Kiên Hảo, lịch tiêm vắc xin cho nái chửa được quy định nghiêm ngặt: Tuần chửa thứ 9 tiêm vắc xin Circovac (2 ml/con); tuần 10 tiêm Tai xanh mũi 1 (2 ml/con); tuần 12 tiêm PED mũi 1 (2 ml/con); tuần 13 tiêm Lở mồm long móng và Giả dại (2 ml/con); tuần 14 tiêm Dịch tả cổ điển (2 ml/con); tuần 15 tiêm PED mũi 2 (2 ml/con) kết hợp tẩy nội ngoại ký sinh trùng; sau khi đẻ 5 ngày tiêm nhắc lại Tai xanh mũi 2 (2 ml/con). Toàn bộ được tiêm qua đường tiêm bắp.

2. Khẩu phần ăn của lợn nái nuôi con tại trại được điều chỉnh cụ thể ra sao từ trước khi đẻ đến ngày cai sữa? Theo quy trình kỹ thuật của trại, lợn nái trước đẻ ăn 2,5 kg/ngày; ngày dự kiến đẻ giảm xuống 2,0 kg/ngày; ngày đầu tiên sau đẻ ăn 2,5 kg/ngày. Từ ngày thứ 2 sau đẻ, mỗi ngày tăng thêm 0,5 kg (ngày thứ 2: 3,0 kg; ngày 3: 3,5 kg; ngày 4: 4,0 kg; ngày 5: 4,5 kg; ngày 6: 5,0 kg; ngày 7: 5,5 kg). Từ ngày thứ 8 trở đi duy trì mức 6,0 kg/ngày cho đến ngày cai sữa thì giảm đột ngột xuống còn 0 - 0,5 kg/ngày.

3. Trong 262 lợn nái sinh sản được theo dõi trực tiếp, tỷ lệ mắc các bệnh sản khoa cụ thể là bao nhiêu? Trong tổng số 262 lợn nái theo dõi trong 5 tháng, có 21 con mắc bệnh viêm tử cung (chiếm tỷ lệ cao nhất là 8,01%); 6 con mắc bệnh viêm vú (chiếm tỷ lệ 2,30%) và 4 con mắc bệnh sát nhau (chiếm tỷ lệ 1,52%).

4. Quy trình chăm sóc và can thiệp thủ thuật cho lợn con từ 1 đến 6 ngày tuổi tại trại gồm những thao tác nào? Quy trình gồm: Lúc 1 ngày tuổi tiến hành mài nanh, chấm cồn rốn, cho uống Hamcoliforce và men Lactobaczym (2 ml/con); lúc 2 ngày tuổi cắt đuôi, bấm tai, cắt rốn (nếu còn dài), chấm cồn rốn, tiêm Dufamox (0,5 ml/con) và tiêm Fe-Dextran; lúc 3 ngày tuổi chấm cồn rốn, cho uống thuốc phòng cầu trùng (2 ml/con) và tiêm Catosal (1 ml/con); lúc 4 ngày tuổi tiến hành thiến lợn đực và tiêm Dufamox (0,5 ml/con); lúc 6 ngày tuổi tiêm nhắc lại Dufamox (0,5 ml/con). Lợn con được tập ăn sớm từ 4 - 6 ngày tuổi.

5. Phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên lợn nái tại trang trại được chỉ định như thế nào? Phác đồ điều trị viêm tử cung gồm: Tiêm bắp kháng sinh Ceftifur với liều 1 ml/10 kg thể trọng; tiêm bắp thuốc kháng viêm giảm đau Diclofenac với liều 1 ml/10 kg thể trọng; tiêm Oxytocin liều 2 ml/con vào mép âm môn để kích thích co bóp tống dịch viêm; đồng thời thụt rửa tử cung bằng nước muối sinh lý với lượng 3 - 4 lít/con. Liệu trình tiêm và thụt rửa thực hiện 1 lần/ngày, kéo dài liên tục từ 3 đến 5 ngày.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Văn Linh đã hoàn thành việc theo dõi, áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, phòng trị bệnh trên 262 lợn nái sinh sản và 3.014 lợn con tại trại lợn Kiên Hảo, tỉnh Hưng Yên. Đề tài đã phản ánh chính xác cơ cấu đàn giai đoạn 2018 - 2020, tỷ lệ đẻ khó phải can thiệp (8,02%) và tỷ lệ mắc ba bệnh sản khoa chính trên đàn nái (viêm tử cung 8,01%, viêm vú 2,30%, sát nhau 1,52%). Việc thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh an toàn sinh học, lịch tiêm phòng vắc xin và các phác đồ điều trị bằng thuốc thú y đặc hiệu đã giúp kiểm soát tốt dịch bệnh, đảm bảo tỷ lệ sống của lợn con cai sữa đạt 97,01% và nâng cao năng suất sinh sản của trang trại.