Luận văn tình hình mắc một số bệnh nhiễm trùng phổ biến 3 tháng sau lũ lụt tháng 10 năm 2010 và biện pháp phòng chống của huyện hưng nguyên tỉnh nghệ an

Luận văn phân tích tình hình bệnh nhiễm trùng sau lũ lụt tháng 10 năm 2010 tại Hưng Nguyên, Nghệ An và biện pháp phòng chống hiệu quả.

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2011

106
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tình Hình Bệnh Nhiễm Trùng Sau Lũ Lụt 2010

Nghiên cứu về tình hình dịch bệnh sau lũ lụt là vô cùng quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu. Lũ lụt, một trong những hậu quả lũ lụt thiên tai phổ biến nhất, gây ra những tác động lớn đến sức khỏe cộng đồng. Bài viết này tập trung vào phân tích tình hình bệnh nhiễm trùng xảy ra sau lũ lụt tháng 10 năm 2010 tại huyện Hưng Nguyên, Nghệ An, đồng thời đề xuất các biện pháp phòng chống hiệu quả. Theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu dịch tễ học thảm họa (CRED), trung bình hàng năm trên toàn thế giới có 387 thiên tai xảy ra với số nạn nhân khoảng 227,5 triệu người/năm. Riêng năm 2010, số thiên tai được báo cáo là 385, nhiều hơn con số thiên tai năm 2009 là 42. Số nạn nhân cũng gia tăng từ 198,7 triệu năm 2009 lên 217,3 triệu người năm 2010, trong đó có khoảng 297.000 người chết.Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, đặc biệt là lũ lụt.

1.1. Khái niệm cơ bản về thiên tai và thảm họa

Để hiểu rõ hơn về vấn đề, cần nắm vững một số khái niệm cơ bản như thảm họa, hiểm họa, tính dễ bị tổn thương, khả năng đáp ứng, rủi ro thiên tai và quản lý rủi ro thiên tai. ISDR định nghĩa thảm họa là sự kiện làm gián đoạn nghiêm trọng các chức năng của cộng đồng, gây thiệt hại về người, vật chất, kinh tế, môi trường vượt quá khả năng ứng phó của cộng đồng đó. Hiểm họa là sự kiện có khả năng gây thiệt hại. Tính dễ bị tổn thương là các đặc điểm của cộng đồng khiến họ dễ bị tác động bởi hiểm họa. Khả năng đáp ứng là sự chuẩn bị các dịch vụ hỗ trợ cộng đồng khi thảm họa xảy ra.

1.2. Tình hình thiên tai lũ lụt ở Việt Nam và Nghệ An

Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, đặc biệt là bão lũ. Hàng năm, thiên tai gây ra những thiệt hại lớn về người và của. Miền Trung là khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt. Theo tài liệu gốc, đợt lụt từ 14-20 tháng 10 năm 2010 đã gây ra hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là ở Nghệ An. Tỉnh Nghệ An đã có 24 người chết, 1 người mất tích, 131 xã, phường của 13/20 huyện, thành, thị với 44.051 hộ bị ngập sâu.

II. Thực Trạng Bệnh Nhiễm Trùng Sau Lũ Lụt ở Hưng Nguyên

Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá tình hình sức khỏe cộng đồng sau lũ lụt tháng 10 năm 2010 tại huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Mục tiêu chính là xác định liệu có sự gia tăng đáng kể các bệnh nhiễm trùng thường gặp sau lũ hay không. Các bệnh liên quan đến nguồn nước ô nhiễmbệnh liên quan đến thực phẩm ô nhiễm cũng được đặc biệt quan tâm. Từ đó, đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh đã được triển khai. Nghiên cứu của Hisayoshi Kondo và cộng sự tại Mozambique sau lụt năm 2000 cho thấy 85% bệnh nhân đến khám và điều trị là mắc các bệnh nhiễm trùng, trong đó tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp và sốt rét là chủ yếu.

2.1. Các bệnh nhiễm trùng phổ biến được ghi nhận

Nghiên cứu tập trung vào một số bệnh nhiễm trùng phổ biến thường gặp sau lũ lụt như bệnh tiêu chảy sau lũ lụt, bệnh ngoài da sau lũ lụt, bệnh đau mắt đỏ sau lũ lụt, và bệnh nhiễm trùng hô hấp. Sự thay đổi về số lượng bệnh nhân mắc các bệnh này trước và sau lũ lụt được so sánh để đánh giá mức độ ảnh hưởng của lũ lụt đến tình hình dịch bệnh. Đồng thời, số ca bệnh sốt xuất huyết sau lũ lụt và các bệnh do muỗi truyền sau lũ lụt cũng được theo dõi.

2.2. Thống kê và báo cáo dịch bệnh sau lũ lụt

Việc thu thập thống kê dịch bệnh và lập báo cáo dịch bệnh đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá nguy cơ dịch bệnh sau lũ lụt. Nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu từ các cơ sở y tế địa phương, bao gồm cả bệnh viện huyện và trạm y tế xã, để có được bức tranh tổng quan về tình hình dịch tễ học sau lũ lụt. Việc phân tích dịch tễ học giúp xác định các yếu tố nguy cơ và các biện pháp can thiệp phù hợp.

III. Phân Tích Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Bệnh Truyền Nhiễm

Nghiên cứu này không chỉ tập trung vào thống kê số lượng bệnh nhân mà còn đi sâu vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ dịch bệnh sau lũ lụt. Các yếu tố này bao gồm điều kiện vệ sinh môi trường sau lũ lụt, thực hành vệ sinh cá nhân sau lũ lụt, và khả năng tiếp cận nguồn nước sạch sau lũ lụt. Đánh giá an toàn thực phẩm sau lũ lụt cũng là một phần quan trọng để hiểu rõ hơn về tình hình sức khỏe cộng đồng.

3.1. Vệ sinh môi trường và nguồn nước sau lũ lụt

Lũ lụt thường gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước. Nước lũ có thể chứa các chất thải, hóa chất độc hại và vi sinh vật gây bệnh. Đánh giá tình trạng vệ sinh môi trường sau lũ lụt và chất lượng nguồn nước sạch sau lũ lụt là cần thiết để xác định nguy cơ lây lan các bệnh liên quan đến nguồn nước ô nhiễm.

3.2. Thực hành vệ sinh cá nhân của người dân vùng lũ

Thực hành vệ sinh cá nhân sau lũ lụt đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh lây nhiễm. Nghiên cứu đánh giá mức độ thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân như rửa tay thường xuyên, sử dụng nước sạch để ăn uống và sinh hoạt, và giữ gìn vệ sinh thân thể. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành vệ sinh cá nhân cũng được xem xét.

IV. Biện Pháp Phòng Chống Bệnh Tật Hiệu Quả Sau Lũ Lụt 2010

Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng chống dịch bệnh sau lũ lụt đã được triển khai tại huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Các biện pháp này bao gồm cả các hoạt động y tế dự phòng và các biện pháp can thiệp cộng đồng. Việc đánh giá này giúp xác định những điểm mạnh và điểm yếu của hệ thống phòng chống dịch bệnh, từ đó đưa ra các khuyến nghị cải thiện.

4.1. Các hoạt động y tế dự phòng sau lũ lụt

Các hoạt động y tế dự phòng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát dịch bệnh sau lũ lụt. Các hoạt động này bao gồm giám sát dịch bệnh, tiêm chủng, khử trùng môi trường, và cung cấp thuốc men và vật tư y tế thiết yếu. Đánh giá hiệu quả của các hoạt động này giúp xác định những lĩnh vực cần tăng cường.

4.2. Truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng

Truyền thông giáo dục sức khỏe là một biện pháp quan trọng để nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguy cơ dịch bệnh sau lũ lụt và các biện pháp phòng ngừa. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe đã được triển khai, bao gồm cả nội dung, hình thức và kênh truyền thông.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Tình Hình Bệnh Truyền Nhiễm Thực Tế

Nghiên cứu đã thu thập số liệu về tình hình mắc bệnh nhiễm trùng phổ biến tại các trạm y tế xã và bệnh viện huyện Hưng Nguyên trong khoảng thời gian 3 tháng trước và sau lũ lụt tháng 10 năm 2010. Kết quả cho thấy có sự gia tăng về số lượng bệnh nhân mắc các bệnh như tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp, bệnh ngoài da và đau mắt đỏ sau lũ lụt. Tuy nhiên, không có dịch bệnh lớn nào xảy ra. Sự gia tăng số lượng bệnh nhân chủ yếu tập trung vào tháng đầu tiên sau lũ lụt.

5.1. So sánh tỷ lệ mắc bệnh trước và sau lũ lụt

Tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng phổ biến như tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp, bệnh ngoài da và đau mắt đỏ đều tăng lên sau lũ lụt. Theo số liệu từ tài liệu gốc, tiêu chảy tăng 1,4 lần ở TYT xã và 2,7 lần ở BVH, nhiễm trùng hô hấp (NTHH) tăng 1,4 lần ở TYT xã và 2 lần ở BVH, cúm tăng 1,5 lần ở TYT xã và 2,2 lần ở BVH, đau mắt đỏ tăng 1,6 lần ở TYT xã và 1,5 lần ở BVH, bệnh ngoài da tăng 2 lần ở TYT xã. Tuy nhiên, mức tăng này không đủ lớn để coi là dịch bệnh.

5.2. Phân tích theo nhóm tuổi và giới tính

Sự gia tăng số lượng bệnh nhân mắc các bệnh nhiễm trùng phổ biến sau lũ lụt chủ yếu tập trung vào nhóm tuổi 15-19. Không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ. Điều này cho thấy lũ lụt ảnh hưởng đến sức khỏe của mọi người, không phân biệt giới tính.

VI. Bài Học Kinh Nghiệm và Giải Pháp Khắc Phục Hậu Quả Lũ Lụt

Nghiên cứu này rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá về công tác phòng chống dịch bệnh sau lũ lụt. Đồng thời, đưa ra các khuyến nghị cụ thể để cải thiện hệ thống phòng chống dịch bệnh và giảm thiểu hậu quả lũ lụt trong tương lai. Các khuyến nghị này bao gồm tăng cường đào tạo cho cán bộ y tế, cải thiện hệ thống giám sát dịch bệnh, và nâng cao nhận thức của cộng đồng về các biện pháp phòng ngừa.

6.1. Tăng cường năng lực cho cán bộ y tế địa phương

Cán bộ y tế địa phương đóng vai trò quan trọng trong công tác phòng chống dịch bệnh sau lũ lụt. Cần tăng cường đào tạo cho cán bộ y tế về các bệnh nhiễm trùng phổ biến, các biện pháp phòng ngừa, và các kỹ năng quản lý dịch bệnh. Theo tài liệu gốc, công tác tập huấn phòng chống bão lụt (PCBL) và bệnh truyền nhiễm sau lụt chưa được thực hiện đầy đủ.

6.2. Nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng bệnh

Nâng cao nhận thức của cộng đồng về các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh là rất quan trọng. Các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe cần được thiết kế phù hợp với từng đối tượng và sử dụng các kênh truyền thông hiệu quả. Cần tập trung vào các biện pháp vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, và sử dụng nước sạch để ăn uống và sinh hoạt.

23/05/2025
Luận văn tình hình mắc một số bệnh nhiễm trùng phổ biến 3 tháng sau lũ lụt tháng 10 năm 2010 và biện pháp phòng chống của huyện hưng nguyên tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, thảm họa tự nhiên (THTN) tăng cả về số lƣợng, sự phức tạp, khó dự đoán và gây ảnh hƣởng lớn tới con ngƣời, môi trƣờng, kinh tế và xã hội[20], [28]. Lũ lụt là loại THTN phổ biến nhất và gây thiệt hại lớn nhất về ngƣời và kinh tế[30]. Hàng năm, lũ lụt chiếm khoảng 30 – 40% các thảm họa trên thế giới. Việt Nam nằm trong nhóm 10 nƣớc có số lƣợng THTN và tỷ lệ ngƣời bị ảnh hƣởng tính trên 100.000 dân cao nhất thế giới[28].

THTN tại Việt Nam hàng năm đã làm chết khoảng 500 ngƣời, bị thƣơng hàng ngàn ngƣời và gây thiệt hại từ 1–3% GDP của cả nƣớc. Bão lụt là hai loại THTN thƣờng gặp và gây thiệt hại nặng nhất ở Việt Nam. Hơn 70% dân số Việt Nam sống trong vùng có nguy cơ bị ảnh hƣởng của lũ lụt. Miền trung là nơi thƣờng xảy ra lũ lụt nhất.

Đợt lụt từ 16 tháng 10 đến 05 tháng 11 năm 2007 tại các tỉnh miền trung đã làm 110 ngƣời chết, 5 ngƣời mất tích, 66 ngƣời bị thƣơng, ƣớc tính tổng thiệt hại hơn 1. Đợt lụt từ 21 tháng 10 đến 03 tháng 11 năm 2008 làm 101 ngƣời chết, 21 ngƣời bị thƣơng, tổng thiệt hại ƣớc tính hơn 8. Đặc biệt từ ngày 14 – 20 tháng 10 năm 2010, lũ lụt đã xảy ra trên địa bàn từ tỉnh Nghệ An đến tỉnh Quảng Nam làm chết 86 ngƣời, bị thƣơng 44 ngƣời, tổng thiệt hại gần 2. Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình là ba tỉnh bị thiệt hại nặng nhất.

Riêng tỉnh Nghệ An đã có 24 ngƣời chết, 1 ngƣời mất tích, 131 xã, phƣờng của 13/20 huyện, thành, thị với 44.051 hộ bị ngập sâu[6]. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hƣởng sức khỏe của THTN, về tình hình mắc bệnh nhiễm trùng sau lũ lụt. Nhiều nghiên cứu cho thấy sau lụt có nhiều nguy cơ làm gia tăng bệnh nhiễm trùng nhƣ ô nhiễm môi trƣờng sống, thiếu nƣớc sạch và điều kiện vệ sinh[22]. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy các bệnh nhiễm trùng phổ biến sau lụt thƣờng là tiêu chảy, lỵ, nhiễm trùng hô hấp cấp, bệnh ngoài da và đau mắt đỏ.

Nghiên cứu của Hisayoshi Kondo và cộng sự tại Mozambique sau lụt năm 2000 cho thấy 85% bệnh nhân đến khám và điều trị là mắc các bệnh nhiễm trùng, trong đó tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp và sốt rét là chủ 2 yếu[21]. Nghiên cứu của Kunii và cộng sự tại Bangladesh cho thấy sau lụt 42,8% bệnh nhân mắc sốt, 26,6% mắc tiêu chảy và 13,9% mắc các bệnh về đƣờng hô hấp[22]. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Hà Văn Nhƣ về hậu quả sức khỏe của lũ quét năm 2005 ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái cho thấy bệnh nhân mắc các bệnh tiêu chảy, bệnh đƣờng hô hấp, bệnh ngoài da, đau mắt trong thời gian 1 tháng sau lũ quét đều tăng hơn tháng trƣớc lũ (tiêu chảy tăng 6,3 lần; đau mắt tăng 3,4 lần; bệnh ngoài da tăng 2,2 lần)[26]. Tuy nhiên, những nghiên cứu trong nƣớc về tình hình mắc bệnh nhiễm trùng sau lũ lụt chƣa phổ biến do vậy thông tin về ảnh hƣởng của lũ lụt tới mắc bệnh nhiễm trùng chƣa nhiều.

Tại Nghệ An, chƣa có nghiên cứu nào về tình hình mắc bệnh nhiễm trùng sau lũ lụt, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Tình hình mắc một số bệnh nhiễm trùng phổ biến 3 tháng sau lũ lụt tháng 10 năm 2010 và những biện pháp phòng chống của huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An” nhằm trả lời câu hỏi bệnh nhiễm trùng có tăng sau lụt không? Cộng đồng và ngành y tế huyện Hƣng Nguyên, tỉnh Nghệ An đã làm gì để phòng chống bệnh dịch sau lụt? 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này nhằm những mục tiêu sau đây: 1. So sánh tỷ lệ mắc một số bệnh nhiễm trùng phổ biến trong số bệnh nhân đến khám và điều trị tại các trạm y tế xã và bệnh viện huyện Hƣng Nguyên 3 tháng trƣớc và sau lũ lụt tháng 10 năm 2010. Mô tả hoạt động phòng chống bệnh truyền nhiễm sau lũ lụt tháng 10 năm 2010 của huyện Hƣng Nguyên, tỉnh Nghệ An. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Một số khái niệm cơ bản, tình hình thiên tai trên thế giới và Việt Nam 1. Một số khái niệm cơ bản Nội dung phần này giới thiệu sáu khái niệm cơ bản thƣờng đƣợc sử dụng trong lĩnh vực quản lý và nghiên cứu về thảm họa: Thảm họa Có rất nhiều định nghĩa về thảm họa nhƣng không có định nghĩa nào làm thỏa mãn tất cả mọi ngƣời. Các tổ chức, cá nhân khác nhau có các cách định nghĩa khác nhau. Dƣới đây là một số ví dụ về định nghĩa thảm họa đã đƣợc đƣa ra: Chiến lƣợc Quốc tế về giảm nhẹ thảm họa của Liên Hợp Quốc (ISDR) định nghĩa thảm họa là “Một sự kiện làm gián đoạn nghiêm trọng các chức năng của cộng đồng hay xã hội gây ra thiệt hại nghiêm trọng về con người, vật chất, kinh tế, môi trường vượt quá khả năng của cộng đồng hoặc xã hội bị ảnh hưởng để có thể đối phó bằng sử dụng nguồn lực của mình” [31].

Hiệp hội chữ thập đỏ và Trăng lƣỡi liềm đỏ Quốc tế (IFRC) định nghĩa: “Một thảm họa xảy ra khi một hiểm họa ảnh hưởng đến một cộng đồng dân cư dễ bị tổn thương, không có đủ khả năng chống đỡ với các tác hại của hiểm họa. Hậu quả là thương tích, thiệt hại về người, tài sản và môi trường”[10]. Mặc dù không có một định nghĩa duy nhất về thảm họa đƣợc mọi ngƣời công nhận nhƣng một số thành phần chính mà các định nghĩa nêu trên đều đề cập tới là: thảm họa phá vỡ các chức năng của một xã hội, gây ra những tổn thất lớn về ngƣời, của cải và môi trƣờng; vƣợt quá khả năng của cộng đồng bị ảnh hƣởng để đối phó với thảm họa bằng chính nguồn lực của cộng đồng; vì vậy, cần có sự giúp đỡ từ bên ngoài. Hiểm họa Theo ISDR, hiểm họa là “ Một sự kiện có khả năng gây thiệt hại vật chất, có thể gây ra tử vong, chấn thương hoặc tác động y tế khác, thiệt hại tài sản, gián đoạn xã hội và kinh tế, suy thoái môi trường”[31].

5 Theo WHO, đó là “ Bất kỳ hiện tượng nào có tiềm năng gây ra sự gián đoạn hoạt động hoặc thiệt hại cho con người và môi trường”[33]. Tính dễ bị tổn thƣơng: ISDR định nghĩa tính dễ bị tổn thƣơng là “ Các đặc điểm và hoàn cảnh của một cộng đồng, hệ thống hoặc tài sản làm cho nó dễ bị tác động của một hiểm họa nào đó”[31]. Theo ISDR, các khía cạnh khác nhau của tính dễ bị tổn thƣơng phát sinh từ các yếu tố vật chất, xã hội, kinh tế và môi trƣờng khác nhau. Ví dụ: việc thiết kế và xây dựng các công trình không đảm bảo, thiếu các biện pháp bảo vệ tài sản, thiếu thông tin và kiến thức về phòng chống thiên tai, hạn chế nhận thức về nguy cơ và các biện pháp phòng ngừa và bất chấp việc quản lý môi trƣờng.

Tính dễ bị tổn thƣơng thay đổi trong cộng đồng theo thời gian. Điều đó đồng nghĩa tính dễ bị tổn thƣơng nhƣ là một đặc trƣng của cộng đồng, tài sản hoặc hệ thống và nó tồn tại độc lập với yếu tố phơi nhiễm nhƣ bão, lụt, động đất…vv[31]. Khả năng đáp ứng Theo ISDR, khả năng đáp ứng là “Sự chuẩn bị các dịch vụ hỗ trợ cộng đồng trong quá trình hoặc ngay sau một thảm họa để cứu người, giảm ảnh hưởng sức khỏe, đảm bảo an toàn cho nhân dân và đáp ứng các nhu cầu cần thiết cho sự tồn tại của người dân bị ảnh hưởng”[31]. Đáp ứng thảm họa đƣợc tập trung chủ yếu vào những vấn đề cần thiết tức thì và trong thời gian ngắn, đôi khi đƣợc gọi là cứu trợ thảm họa.

Sự phân loại giữa giai đoạn đáp ứng và giai đoạn phục hồi sau đó không đƣợc rõ ràng. Một số hoạt động đáp ứng nhƣ cung cấp nhà ở tạm thời và cung cấp nƣớc sạch, còn việc tạo thêm các giếng nƣớc thì thƣờng trong giai đoạn phục hồi[31]. Rủi ro thiên tai Theo ISDR, rủi ro thiên tai là “Việc thảm họa tiềm tàng làm mất tính mạng, sức khỏe, sinh kế, tài sản và việc làm, điều đó có thể xảy ra với một cộng đồng đặc thù hoặc một xã hội trong tương lai”[31]. Nhƣ vậy, định nghĩa rủi ro thiên tai phản ánh khái niệm thảm họa nhƣ là hậu quả tiếp theo của điều kiện xuất hiện nguy cơ.

Rủi ro thiên tai bao gồm các loại gây thiệt hại khác nhau và khó xác định rõ về số 6 lƣợng. Tuy nhiên, với kiến thức về hiểm họa đang phổ biến và mô hình phát triển dân số, kinh tế xã hội, rủi ro thiên tai có thể đƣợc đánh giá và vẽ bản đồ trong một giới hạn rõ ràng nhất có thể[31]. Quản lý rủi ro thiên tai Theo ISDR, quản lý rủi ro thiên tai đó là “Quá trình có hệ thống bằng cách sử dụng các chỉ thị hành chính, tổ chức, kỹ năng hoạt động và năng lực để thể hiện chiến lược, chính sách và cải thiện năng lực đối phó làm giảm khả năng gây hại của mối nguy hiểm”[31]. Thuật ngữ này phát triển từ thuật ngữ chung hơn “quản lý rủi ro” áp dụng vào vấn đề đặc thù là rủi ro thiên tai.

Quản lý rủi ro thiên tai nhằm tránh, giảm hoặc chuyển các ảnh hƣởng bất lợi của hiểm họa thông qua các hoạt động, biện pháp để mà dự phòng, giảm nhẹ và phòng ngừa[31]. Tình hình thiên tai trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình thiên tai trên thế giới Trên phạm vi toàn cầu, trong vài thập kỷ gần đây, thiên tai xảy ra với mức độ ngày càng trầm trọng, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với cuộc sống của ngƣời dân, đặc biệt là những ngƣời nghèo. Thiên tai là hiện tƣợng tự nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các hoạt động của con ngƣời nhƣ phát triển công nghệ, đô thị hoá, bùng nổ dân số, suy thoái tài nguyên môi trƣờng đã làm gia tăng mức độ, hậu quả do thiên tai gây ra.

Trong hai thập kỷ qua, trên thế giới, trung bình mỗi năm có hơn 200 triệu ngƣời chịu ảnh hƣởng trực tiếp bởi những thảm họa do thiên tai gây ra[8]. Theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu dịch tễ học thảm họa (CRED) từ năm 2000 – 2009, trung bình hàng năm trên toàn thế giới có 387 thiên tai xảy ra với số nạn nhân khoảng 227,5 triệu ngƣời/năm[19]. Riêng năm 2010, số thiên tai đƣợc báo cáo là 385, nhiều hơn con số thiên tai năm 2009 là 42.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ