ĐẶT VẤN ĐỀ Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, thảm họa tự nhiên (THTN) tăng cả về số lƣợng, sự phức tạp, khó dự đoán và gây ảnh hƣởng lớn tới con ngƣời, môi trƣờng, kinh tế và xã hội[20], [28]. Lũ lụt là loại THTN phổ biến nhất và gây thiệt hại lớn nhất về ngƣời và kinh tế[30]. Hàng năm, lũ lụt chiếm khoảng 30 – 40% các thảm họa trên thế giới. Việt Nam nằm trong nhóm 10 nƣớc có số lƣợng THTN và tỷ lệ ngƣời bị ảnh hƣởng tính trên 100.000 dân cao nhất thế giới[28].
THTN tại Việt Nam hàng năm đã làm chết khoảng 500 ngƣời, bị thƣơng hàng ngàn ngƣời và gây thiệt hại từ 1–3% GDP của cả nƣớc. Bão lụt là hai loại THTN thƣờng gặp và gây thiệt hại nặng nhất ở Việt Nam. Hơn 70% dân số Việt Nam sống trong vùng có nguy cơ bị ảnh hƣởng của lũ lụt. Miền trung là nơi thƣờng xảy ra lũ lụt nhất.
Đợt lụt từ 16 tháng 10 đến 05 tháng 11 năm 2007 tại các tỉnh miền trung đã làm 110 ngƣời chết, 5 ngƣời mất tích, 66 ngƣời bị thƣơng, ƣớc tính tổng thiệt hại hơn 1. Đợt lụt từ 21 tháng 10 đến 03 tháng 11 năm 2008 làm 101 ngƣời chết, 21 ngƣời bị thƣơng, tổng thiệt hại ƣớc tính hơn 8. Đặc biệt từ ngày 14 – 20 tháng 10 năm 2010, lũ lụt đã xảy ra trên địa bàn từ tỉnh Nghệ An đến tỉnh Quảng Nam làm chết 86 ngƣời, bị thƣơng 44 ngƣời, tổng thiệt hại gần 2. Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình là ba tỉnh bị thiệt hại nặng nhất.
Riêng tỉnh Nghệ An đã có 24 ngƣời chết, 1 ngƣời mất tích, 131 xã, phƣờng của 13/20 huyện, thành, thị với 44.051 hộ bị ngập sâu[6]. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hƣởng sức khỏe của THTN, về tình hình mắc bệnh nhiễm trùng sau lũ lụt. Nhiều nghiên cứu cho thấy sau lụt có nhiều nguy cơ làm gia tăng bệnh nhiễm trùng nhƣ ô nhiễm môi trƣờng sống, thiếu nƣớc sạch và điều kiện vệ sinh[22]. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy các bệnh nhiễm trùng phổ biến sau lụt thƣờng là tiêu chảy, lỵ, nhiễm trùng hô hấp cấp, bệnh ngoài da và đau mắt đỏ.
Nghiên cứu của Hisayoshi Kondo và cộng sự tại Mozambique sau lụt năm 2000 cho thấy 85% bệnh nhân đến khám và điều trị là mắc các bệnh nhiễm trùng, trong đó tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp và sốt rét là chủ 2 yếu[21]. Nghiên cứu của Kunii và cộng sự tại Bangladesh cho thấy sau lụt 42,8% bệnh nhân mắc sốt, 26,6% mắc tiêu chảy và 13,9% mắc các bệnh về đƣờng hô hấp[22]. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Hà Văn Nhƣ về hậu quả sức khỏe của lũ quét năm 2005 ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái cho thấy bệnh nhân mắc các bệnh tiêu chảy, bệnh đƣờng hô hấp, bệnh ngoài da, đau mắt trong thời gian 1 tháng sau lũ quét đều tăng hơn tháng trƣớc lũ (tiêu chảy tăng 6,3 lần; đau mắt tăng 3,4 lần; bệnh ngoài da tăng 2,2 lần)[26]. Tuy nhiên, những nghiên cứu trong nƣớc về tình hình mắc bệnh nhiễm trùng sau lũ lụt chƣa phổ biến do vậy thông tin về ảnh hƣởng của lũ lụt tới mắc bệnh nhiễm trùng chƣa nhiều.
Tại Nghệ An, chƣa có nghiên cứu nào về tình hình mắc bệnh nhiễm trùng sau lũ lụt, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Tình hình mắc một số bệnh nhiễm trùng phổ biến 3 tháng sau lũ lụt tháng 10 năm 2010 và những biện pháp phòng chống của huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An” nhằm trả lời câu hỏi bệnh nhiễm trùng có tăng sau lụt không? Cộng đồng và ngành y tế huyện Hƣng Nguyên, tỉnh Nghệ An đã làm gì để phòng chống bệnh dịch sau lụt? 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này nhằm những mục tiêu sau đây: 1. So sánh tỷ lệ mắc một số bệnh nhiễm trùng phổ biến trong số bệnh nhân đến khám và điều trị tại các trạm y tế xã và bệnh viện huyện Hƣng Nguyên 3 tháng trƣớc và sau lũ lụt tháng 10 năm 2010. Mô tả hoạt động phòng chống bệnh truyền nhiễm sau lũ lụt tháng 10 năm 2010 của huyện Hƣng Nguyên, tỉnh Nghệ An. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm cơ bản, tình hình thiên tai trên thế giới và Việt Nam 1. Một số khái niệm cơ bản Nội dung phần này giới thiệu sáu khái niệm cơ bản thƣờng đƣợc sử dụng trong lĩnh vực quản lý và nghiên cứu về thảm họa: Thảm họa Có rất nhiều định nghĩa về thảm họa nhƣng không có định nghĩa nào làm thỏa mãn tất cả mọi ngƣời. Các tổ chức, cá nhân khác nhau có các cách định nghĩa khác nhau. Dƣới đây là một số ví dụ về định nghĩa thảm họa đã đƣợc đƣa ra: Chiến lƣợc Quốc tế về giảm nhẹ thảm họa của Liên Hợp Quốc (ISDR) định nghĩa thảm họa là “Một sự kiện làm gián đoạn nghiêm trọng các chức năng của cộng đồng hay xã hội gây ra thiệt hại nghiêm trọng về con người, vật chất, kinh tế, môi trường vượt quá khả năng của cộng đồng hoặc xã hội bị ảnh hưởng để có thể đối phó bằng sử dụng nguồn lực của mình” [31].
Hiệp hội chữ thập đỏ và Trăng lƣỡi liềm đỏ Quốc tế (IFRC) định nghĩa: “Một thảm họa xảy ra khi một hiểm họa ảnh hưởng đến một cộng đồng dân cư dễ bị tổn thương, không có đủ khả năng chống đỡ với các tác hại của hiểm họa. Hậu quả là thương tích, thiệt hại về người, tài sản và môi trường”[10]. Mặc dù không có một định nghĩa duy nhất về thảm họa đƣợc mọi ngƣời công nhận nhƣng một số thành phần chính mà các định nghĩa nêu trên đều đề cập tới là: thảm họa phá vỡ các chức năng của một xã hội, gây ra những tổn thất lớn về ngƣời, của cải và môi trƣờng; vƣợt quá khả năng của cộng đồng bị ảnh hƣởng để đối phó với thảm họa bằng chính nguồn lực của cộng đồng; vì vậy, cần có sự giúp đỡ từ bên ngoài. Hiểm họa Theo ISDR, hiểm họa là “ Một sự kiện có khả năng gây thiệt hại vật chất, có thể gây ra tử vong, chấn thương hoặc tác động y tế khác, thiệt hại tài sản, gián đoạn xã hội và kinh tế, suy thoái môi trường”[31].
5 Theo WHO, đó là “ Bất kỳ hiện tượng nào có tiềm năng gây ra sự gián đoạn hoạt động hoặc thiệt hại cho con người và môi trường”[33]. Tính dễ bị tổn thƣơng: ISDR định nghĩa tính dễ bị tổn thƣơng là “ Các đặc điểm và hoàn cảnh của một cộng đồng, hệ thống hoặc tài sản làm cho nó dễ bị tác động của một hiểm họa nào đó”[31]. Theo ISDR, các khía cạnh khác nhau của tính dễ bị tổn thƣơng phát sinh từ các yếu tố vật chất, xã hội, kinh tế và môi trƣờng khác nhau. Ví dụ: việc thiết kế và xây dựng các công trình không đảm bảo, thiếu các biện pháp bảo vệ tài sản, thiếu thông tin và kiến thức về phòng chống thiên tai, hạn chế nhận thức về nguy cơ và các biện pháp phòng ngừa và bất chấp việc quản lý môi trƣờng.
Tính dễ bị tổn thƣơng thay đổi trong cộng đồng theo thời gian. Điều đó đồng nghĩa tính dễ bị tổn thƣơng nhƣ là một đặc trƣng của cộng đồng, tài sản hoặc hệ thống và nó tồn tại độc lập với yếu tố phơi nhiễm nhƣ bão, lụt, động đất…vv[31]. Khả năng đáp ứng Theo ISDR, khả năng đáp ứng là “Sự chuẩn bị các dịch vụ hỗ trợ cộng đồng trong quá trình hoặc ngay sau một thảm họa để cứu người, giảm ảnh hưởng sức khỏe, đảm bảo an toàn cho nhân dân và đáp ứng các nhu cầu cần thiết cho sự tồn tại của người dân bị ảnh hưởng”[31]. Đáp ứng thảm họa đƣợc tập trung chủ yếu vào những vấn đề cần thiết tức thì và trong thời gian ngắn, đôi khi đƣợc gọi là cứu trợ thảm họa.
Sự phân loại giữa giai đoạn đáp ứng và giai đoạn phục hồi sau đó không đƣợc rõ ràng. Một số hoạt động đáp ứng nhƣ cung cấp nhà ở tạm thời và cung cấp nƣớc sạch, còn việc tạo thêm các giếng nƣớc thì thƣờng trong giai đoạn phục hồi[31]. Rủi ro thiên tai Theo ISDR, rủi ro thiên tai là “Việc thảm họa tiềm tàng làm mất tính mạng, sức khỏe, sinh kế, tài sản và việc làm, điều đó có thể xảy ra với một cộng đồng đặc thù hoặc một xã hội trong tương lai”[31]. Nhƣ vậy, định nghĩa rủi ro thiên tai phản ánh khái niệm thảm họa nhƣ là hậu quả tiếp theo của điều kiện xuất hiện nguy cơ.
Rủi ro thiên tai bao gồm các loại gây thiệt hại khác nhau và khó xác định rõ về số 6 lƣợng. Tuy nhiên, với kiến thức về hiểm họa đang phổ biến và mô hình phát triển dân số, kinh tế xã hội, rủi ro thiên tai có thể đƣợc đánh giá và vẽ bản đồ trong một giới hạn rõ ràng nhất có thể[31]. Quản lý rủi ro thiên tai Theo ISDR, quản lý rủi ro thiên tai đó là “Quá trình có hệ thống bằng cách sử dụng các chỉ thị hành chính, tổ chức, kỹ năng hoạt động và năng lực để thể hiện chiến lược, chính sách và cải thiện năng lực đối phó làm giảm khả năng gây hại của mối nguy hiểm”[31]. Thuật ngữ này phát triển từ thuật ngữ chung hơn “quản lý rủi ro” áp dụng vào vấn đề đặc thù là rủi ro thiên tai.
Quản lý rủi ro thiên tai nhằm tránh, giảm hoặc chuyển các ảnh hƣởng bất lợi của hiểm họa thông qua các hoạt động, biện pháp để mà dự phòng, giảm nhẹ và phòng ngừa[31]. Tình hình thiên tai trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình thiên tai trên thế giới Trên phạm vi toàn cầu, trong vài thập kỷ gần đây, thiên tai xảy ra với mức độ ngày càng trầm trọng, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với cuộc sống của ngƣời dân, đặc biệt là những ngƣời nghèo. Thiên tai là hiện tƣợng tự nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các hoạt động của con ngƣời nhƣ phát triển công nghệ, đô thị hoá, bùng nổ dân số, suy thoái tài nguyên môi trƣờng đã làm gia tăng mức độ, hậu quả do thiên tai gây ra.
Trong hai thập kỷ qua, trên thế giới, trung bình mỗi năm có hơn 200 triệu ngƣời chịu ảnh hƣởng trực tiếp bởi những thảm họa do thiên tai gây ra[8]. Theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu dịch tễ học thảm họa (CRED) từ năm 2000 – 2009, trung bình hàng năm trên toàn thế giới có 387 thiên tai xảy ra với số nạn nhân khoảng 227,5 triệu ngƣời/năm[19]. Riêng năm 2010, số thiên tai đƣợc báo cáo là 385, nhiều hơn con số thiên tai năm 2009 là 42.