Nghiên Cứu Tính Chủ Quan Trong Phát Ngôn Tiếng Việt Với Các Phương Tiện Chỉ Thời Thể

Luận văn thạc sĩ ussh phân tích tính chủ quan trong phát ngôn tiếng Việt với các phương tiện chỉ thời thể, mang lại cái nhìn sâu sắc về ngôn ngữ.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lí luận ngôn ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2003

245
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Khái niệm tình thái

1.2. Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học thế giới về tình thái

1.3. Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về tình thái

1.4. Tính chủ quan của phát ngôn

1.4.1. Khái niệm tính chủ quan của phát ngôn, với tư cách là một phương diện của phạm trù tình thái

1.4.2. Các phương tiện đánh dấu tính chủ quan của phát ngôn

1.4.2.1. Các phương tiện ngữ âm
1.4.2.2. Các phương tiện ngữ pháp
1.4.2.3. Các phương tiện từ vựng

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG NGỮ NGHĨA CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN CHỈ THỜI, THỂ TRONG TIẾNG VIỆT

2.1. Nhận xét mở đầu

2.2. Vài nét về vấn đề thời, thể trong tiếng Việt

2.3. Tình hình nghiên cứu

2.4. Các phương tiện biểu thị thời, thể trong tiếng Việt

2.5. Cơ sở để nhận biết tính chủ quan trong các phát ngôn tiếng Việt có chứa các phương tiện chỉ thời, thể

2.6. Quan hệ giữa chủ quan và khách quan

2.7. Tiền giả định và hàm ý của các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt

2.7.1. Tiền giả định của các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt

2.7.1.1. Tiền giả định thực hữu
2.7.1.2. Tiền giả định phản thực hữu
2.7.1.3. Tiền giả định không thực hữu

2.7.2. Hàm ý của các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt

2.7.2.1. Hàm ý về tính hiện thực của sự tình
2.7.2.2. Hàm ý về tính chủ ý của sự tình
2.7.2.3. Hàm ý đánh giá

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CÁC HÀM Ý ĐÁNH GIÁ MANG TÍNH CHỦ QUAN GẮN VỚI CÁC PHƯƠNG TIỆN CHỈ THỜI, THỂ TRONG TIẾNG VIỆT

3.1. Nhận xét mở đầu

3.2. Các kiểu ý nghĩa đánh giá gắn với các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt

3.2.1. Đánh giá về tầm quan trọng của nội dung sự tình

3.2.2. Đánh giá về tính chất bất thường, nằm ngoài dự tính chờ đợi của sự tình nêu trong phát ngôn

3.2.3. Đánh giá về tính tích cực/ tiêu cực (không tích cực) của sự tình nêu trong phát ngôn

3.2.4. Đánh giá về lượng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tính Chủ Quan Trong Phát Ngôn Tiếng Việt

Tính chủ quan trong phát ngôn tiếng Việt là một khái niệm quan trọng trong ngôn ngữ học, đặc biệt là trong việc phân tích các phương tiện chỉ thời, thể. Các hư từ như 'đã', 'đang', 'sẽ' không chỉ đơn thuần biểu thị thời gian mà còn mang theo những hàm ý chủ quan của người nói. Việc hiểu rõ tính chủ quan này giúp làm sáng tỏ cách thức mà người nói thể hiện quan điểm, cảm xúc và thái độ của mình đối với sự tình được đề cập.

1.1. Khái Niệm Tính Chủ Quan Trong Ngôn Ngữ

Tính chủ quan trong ngôn ngữ được hiểu là khả năng thể hiện quan điểm cá nhân của người nói thông qua các phương tiện ngôn ngữ. Điều này không chỉ liên quan đến nội dung mà còn đến cách thức mà nội dung đó được truyền đạt.

1.2. Vai Trò Của Các Phương Tiện Chỉ Thời Thể

Các phương tiện chỉ thời, thể như 'đã', 'đang', 'sẽ' đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tính chủ quan của phát ngôn. Chúng không chỉ đơn thuần chỉ ra thời điểm mà còn thể hiện thái độ và cảm xúc của người nói.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Nghiên Cứu Tính Chủ Quan

Nghiên cứu tính chủ quan trong phát ngôn tiếng Việt gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc xác định các hàm ý và ý nghĩa của các hư từ. Sự khác biệt trong cách hiểu và sử dụng các phương tiện này có thể dẫn đến những hiểu lầm trong giao tiếp.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Xác Định Hàm Ý

Việc xác định hàm ý của các hư từ trong phát ngôn không phải lúc nào cũng rõ ràng. Các ngữ cảnh khác nhau có thể dẫn đến những cách hiểu khác nhau về cùng một phát ngôn.

2.2. Ảnh Hưởng Của Ngữ Cảnh Đến Tính Chủ Quan

Ngữ cảnh giao tiếp có thể ảnh hưởng lớn đến cách mà tính chủ quan được thể hiện. Một phát ngôn có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh mà nó được sử dụng.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tính Chủ Quan Trong Phát Ngôn

Để nghiên cứu tính chủ quan trong phát ngôn tiếng Việt, cần áp dụng các phương pháp phân tích ngữ nghĩa và ngữ dụng. Việc phân tích ngữ cảnh, so sánh và đối chiếu các phát ngôn sẽ giúp làm rõ hơn các hàm ý chủ quan.

3.1. Phân Tích Ngữ Cảnh Trong Phát Ngôn

Phân tích ngữ cảnh là một phương pháp quan trọng giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tính chủ quan trong phát ngôn. Ngữ cảnh không chỉ bao gồm bối cảnh xã hội mà còn cả tâm trạng của người nói.

3.2. So Sánh Các Phát Ngôn Khác Nhau

So sánh các phát ngôn có chứa các phương tiện chỉ thời, thể sẽ giúp làm rõ sự khác biệt trong cách thể hiện tính chủ quan. Điều này cũng giúp nhận diện các mẫu hình ngôn ngữ phổ biến.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Tính Chủ Quan

Nghiên cứu tính chủ quan trong phát ngôn tiếng Việt có nhiều ứng dụng thực tiễn, đặc biệt trong giáo dục và giao tiếp. Việc hiểu rõ các hàm ý chủ quan sẽ giúp cải thiện khả năng giao tiếp và hiểu biết văn hóa.

4.1. Cải Thiện Kỹ Năng Giao Tiếp

Hiểu rõ tính chủ quan trong phát ngôn sẽ giúp người học tiếng Việt cải thiện kỹ năng giao tiếp, từ đó nâng cao khả năng diễn đạt ý tưởng và cảm xúc một cách chính xác.

4.2. Ứng Dụng Trong Giảng Dạy Ngôn Ngữ

Nghiên cứu này có thể được áp dụng trong việc xây dựng giáo trình giảng dạy tiếng Việt, giúp học viên hiểu rõ hơn về cách sử dụng các hư từ và tính chủ quan trong giao tiếp.

V. Kết Luận Về Tính Chủ Quan Trong Phát Ngôn Tiếng Việt

Tính chủ quan trong phát ngôn tiếng Việt là một lĩnh vực nghiên cứu phong phú và đa dạng. Việc hiểu rõ các phương tiện chỉ thời, thể không chỉ giúp làm sáng tỏ ngữ nghĩa mà còn góp phần vào việc phát triển ngôn ngữ học tiếng Việt.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Tính Chủ Quan

Nghiên cứu tính chủ quan trong phát ngôn sẽ tiếp tục phát triển, mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác nhau trong ngôn ngữ học, từ đó đóng góp vào việc hiểu biết sâu sắc hơn về ngôn ngữ và giao tiếp.

5.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Mới

Cần có thêm nhiều nghiên cứu sâu hơn về các phương tiện chỉ thời, thể trong các ngữ cảnh khác nhau, từ đó làm rõ hơn vai trò của chúng trong việc thể hiện tính chủ quan trong phát ngôn.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh tính chủ quan trong các phát ngôn tiếng việt có chứa các phương tiện chỉ thời thể

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. KHÁI NIỆM TÌNH THÁI: 1. QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ NGÔN NGỮ HỌC TRÊN THẾ GIỚI VỀ TÌNH THÁI: 1. Tình thái khách quan: Trong mấy chục năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của Ngữ pháp chức năng, của lí thuyết hành vi ngôn ngữ, vấn đề tình thái được các nhà Ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm nghiên cứu.

Nhưng thực ra, vấn đề tình thái (modality, modalité hay modus) đã được các nhà Logic học quan tâm, nghiên cứu từ rất xa xưa. Có thể nói Aristote là nhà Logic học đầu tiên quan tâm đến tình thái. Trong các công trình về Logic học như “De l’interprétation” (Về sự giải thích) [mục 12-13] bàn về sự phân loại mệnh đề hay cuốn “Premiers analytiques” (Những phân tích đầu tiên) [mục 3- 13; 8-22], ông đã đề cập đến vấn đề tình thái. Trong phạm vi của mình, khi xác định tính đúng/ sai hay giá trị chân/ ngụy của mệnh đề, Logic học đã quan tâm đến tình thái của mệnh đề ở các phương diện sau: - Nội dung mệnh đề là hiện thực hay phi hiện thực; - Nội dung mệnh đề là tất yếu hay không tất yếu; - Nội dung mệnh đề là có khả năng xảy ra hay không có khả năng xảy ra.

Theo quan điểm như vậy, các mệnh đề, tuỳ theo mối liên hệ giữa chủ từ và vị từ xét trong mối quan hệ giữa mệnh đề với thực tế, được quy về một trong ba nhóm sau: - Nhóm các mệnh đề hiện thực: Các mệnh đề hiện thực phản ánh sự xác nhận đối tượng có hay không có đặc trưng do vị từ nêu ra. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nhóm các mệnh đề tất yếu: Các mệnh đề tất yếu phản ánh những nội dung nhận thức mà đặc trưng do vị từ biểu thị có ở đối tượng trong mọi hoàn cảnh, mọi điều kiện. - Nhóm các mệnh đề khả năng: Các mệnh đề khả năng phản ánh xác suất đối tượng có hay không có đặc trưng nêu ở vị từ. Bảng màu tình thái trong Lôgic học rất đơn giản và đặc biệt là hoàn toàn loại trừ vai trò của người nói.

Người ta gọi đây là tình thái khách quan (tình thái của Logic học) trong sự đối lập với tình thái chủ quan (tình thái của Ngôn ngữ học). Chẳng hạn, xét các phát ngôn sau: 1) Nó đã đi Hà Nội. 2) Nó lại đi Hà Nội. 3) Nó phải đi Hà Nội.

4) Nó sắp đi Hà Nội. 5) Có lẽ nó đi Hà Nội. Trong số các phát ngôn trên, các phát ngôn (1), (2) được quy về nhóm các mệnh đề hiện thực; phát ngôn (3) được quy về nhóm các mệnh đề tất yếu và các phát ngôn (4), (5) được quy về nhóm các mệnh đề khả năng. Trong khi đó, ngược lại, tình thái chủ quan (tình thái ngôn ngữ) lại đặc biệt quan tâm đến vai trò của người nói.

Bảng màu tình thái chủ quan đa dạng, phong phú hơn tình thái khách quan rất nhiều và đòi hỏi một sự quan tâm nghiên cứu đặc biệt. Tình thái chủ quan: Tình thái chủ quan (tình thái của ngôn ngữ) là một trong những vấn đề rất quan trọng nhưng cũng rất phức tạp của Ngôn ngữ học hiện đại. Có thể nói từ trước đến nay, không có khái niệm ngôn ngữ học nào lại phức tạp, gây nhiều tranh cãi như khái niệm tình thái. Dường như là có bao nhiêu tác giả nghiên cứu về tình thái thì có bấy nhiêu quan điểm về tình 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Đánh giá về tính chất phức tạp của tình thái, V. Panfilov đã phải phát biểu: “không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và thành phần các ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tính tình thái”. Mặc dù đều xác nhận tình thái là một trong hai thành phần cơ bản trong cấu trúc ngữ nghĩa của câu nhưng mỗi tác giả lại hiểu khái niệm tình thái theo một cách khác nhau. Cách hiểu của V.

Bondarenko về khái niệm tình thái không giống như cách hiểu của M. Liapon lại càng không giống cách hiểu của J. Lyons hay của J. Bondarenko cho rằng: “Tính tình thái là phạm trù ngôn ngữ chỉ ra đặc điểm của các mối quan hệ khách quan (tình thái khách quan) được phản ánh trong nội dung của câu và chỉ ra mức độ của tính xác thực về nội dung của chính câu đó theo quan niệm của người nói (tình thái chủ quan)”.

Liapon thì cho: “Tính tình thái là một phạm trù chức năng ngữ nghĩa thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn đối với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau của điều được thông báo”. Lyons lại cho rằng tình thái: “là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay tình trạng mà mệnh đề đó miêu tả”. Ở mức độ khái quát hơn, J. Bybee cho rằng, tình thái là “tất cả những gì mà người nói thực hiện cùng toàn bộ nội dung mệnh đề”.

Sở dĩ có sự khác biệt giữa các tác giả trong cách hiểu về tình thái như trên là do: - Các ý nghĩa tình thái trong ngôn ngữ rất phong phú và đa dạng. Nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi các đối lập phổ quát như các đối lập hiện thực/ phi hiện thực; tất yếu/ không tất yếu; có khả năng/ không có 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khả năng như Logic học mà là một quá trình nhận thức liên tục bao gồm nhiều khâu, nhiều bước chuyển tiếp từ cực này đến cực kia của sự đối lập, từ chắc chắn đến không thể, từ bắt buộc, cấm đoán đến cho phép và miễn trừ,… - Các ý nghĩa tình thái chủ quan không phân biệt nhau một cách rõ ràng như các ý nghĩa tình thái khách quan mà giao thoa, đan xen, chồng chéo, lồng ghép vào nhau và bổ sung cho nhau tạo thành nhiều tầng nhiều bậc ngữ nghĩa khác nhau thuộc nhiều phạm trù khác nhau nên việc khái quát các ý nghĩa đó thành một phạm trù phổ quát không phải là một việc dễ dàng. - Trong quá trình nghiên cứu, do mục đích nhu cầu của mình, các tác giả nghiên cứu tình thái trong những phạm vi khác nhau nên khó có thể tránh khỏi sự không đồng nhất về quan điểm. Qua trên ta thấy quan điểm của các tác giả về tình thái không thống nhất hoàn toàn với nhau nhưng điều đó không có nghĩa là không thể tìm thấy một nét chung nào đó trong quan điểm của các tác giả về khái niệm này.

Nhìn chung, các quan điểm của các tác giả có thể quy về hai khuynh hướng chính sau: 1. Khuynh hướng hiểu tình thái theo nghĩa hẹp: Đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này là Charles Bally, nhà Ngôn ngữ học người Pháp, một trong những người có công lớn nhất trong việc mở đường cho việc nghiên cứu về tính tình thái của ngôn ngữ một cách có hệ thống. Theo ông, cấu trúc ngữ nghĩa của một phát ngôn bao giờ cũng gồm hai thành phần: tình thái (modus) và nội dung mệnh đề (dictum). 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phát ngôn = tình thái + nội dung mệnh đề.

Trong đó, nội dung mệnh đề (dictum) là những chất liệu tạo nên phát ngôn, miêu tả sự tình của thế giới hiện thực và được coi là chưa có sự tham gia của người nói (tức là không có tính chủ quan). Và, tình thái (modus) là quan điểm, thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá,. của người nói. Nội dung mệnh đề là bộ phận biểu hiện một nội dung sự tình ở dạng tiềm năng nào đó gắn với chức năng thông tin, chức năng miêu tả của ngôn ngữ.

Còn tình thái, gắn với bình diện tâm lí, thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói (tức những nhân tố thuộc chủ quan của người nói) đối với điều được nói ra, xét trong mối quan hệ với thực tế, với người nghe và với hoàn cảnh giao tiếp. Tình thái như vậy, giữ vai trò quan trọng trong việc thực tại hoá một nội dung sự tình còn ở dạng tiềm năng thành phát ngôn hiện thực, tức là một phát ngôn trong hoạt động hành chức của nó, một phát ngôn mà trong đó người nói cho biết hành động, trạng thái do vị từ biểu thị là hiện thực hay là khả năng, là có thể hay là không thể, là đáng tin cậy hay không đáng tin cậy, là quan trọng cần lưu tâm chú ý hay là không quan trọng không đáng lưu tâm chú ý, v. tóm lại là người nói cho biết nội dung sự tình nêu trong phát ngôn theo quan điểm, theo cách nhìn nhận, đánh giá chủ quan của mình thì như thế nào, ra làm sao, v. Tình thái cùng với nội dung mệnh đề tác động qua lại tạo nên ngữ nghĩa chung của cả phát ngôn.

Một phát ngôn không thể không có nội dung mệnh đề cũng như không thể không có tình thái. Chẳng hạn, xét các phát ngôn đã nêu ở trên, ta thấy cả năm phát ngôn đều có cùng một nội dung mệnh đề là “nó đi Hà Nội” nhưng quan điểm, thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá của người nói đối với nội dung mệnh đề đó trong mỗi phát ngôn là không như nhau. Với phát ngôn “Nó đã đi Hà Nội”, người nói biểu thị sự cam kết, xác nhận nội dung mệnh đề là chân thực, là đáng tin cậy và người nói có đầy đủ cơ sở, 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bằng chứng cho điều đó. Với phát ngôn “Nó lại đi Hà Nội”, người nói không chỉ hàm ý rằng sự tình nêu trong phát ngôn là chân thực, là đáng tin cậy mà còn hàm ý rằng sự tình đó nằm ngoài sự dự tính, chờ đợi, nằm ngoài sự mong muốn của người nói.

Với phát ngôn “Nó phải đi Hà Nội”, người nói trình bày quan điểm, thái độ về sự tình dựa trên tiêu chuẩn sự ràng buộc cho rằng sự tình nêu trong phát ngôn là một điều bắt buộc (khách quan hoặc chủ quan) và do đó có thể còn kéo theo hàm ý rằng đó là điều đáng tiếc, một điều nằm ngoài sự mong muốn, chờ đợi của người nói. Với phát ngôn “Nó sắp đi Hà Nội” và “Có lẽ nó đi Hà Nội”, người nói không bày tỏ sự cam kết, bảo đảm về tính chân thực của sự tình nêu trong phát ngôn. Ở đây người nói không khẳng định cũng không bác bỏ tính hiện thực của nội dung mệnh đề. Sự tình nêu trong các phát ngôn trên chỉ là sự đoán định của người nói.

Nó có thể xảy ra như thế mà cũng có thể không xảy ra như thế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tính Chủ Quan Trong Phát Ngôn Tiếng Việt: Nghiên Cứu Các Phương Tiện Chỉ Thời Thể" khám phá khía cạnh chủ quan trong ngôn ngữ tiếng Việt, đặc biệt là cách mà các phương tiện chỉ thời thể ảnh hưởng đến cách diễn đạt và hiểu biết của người nói. Tác giả phân tích các yếu tố ngữ nghĩa và ngữ pháp liên quan, giúp người đọc nhận thức rõ hơn về sự phong phú và đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ.

Bằng cách tìm hiểu tài liệu này, độc giả sẽ có cơ hội nâng cao khả năng giao tiếp và hiểu biết về ngôn ngữ, từ đó cải thiện kỹ năng viết và nói trong tiếng Việt. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Hướng dẫn phân loại hành động cầu khiến, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách phân loại hành động trong ngôn ngữ. Ngoài ra, tài liệu Luận văn nhóm từ ngữ có yếu tố miệng trong tiếng việt sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố miệng trong giao tiếp. Cuối cùng, tài liệu Biểu thức tình thái diễn đạt tính lịch sự trong giao tiếp tiếng việt sẽ cung cấp thêm thông tin về cách thể hiện sự lịch sự trong giao tiếp, một khía cạnh quan trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả.