Chương 1 GIỚI THUYẾT Đây là chương có tính chất giới thuyết làm cơ sở cho những nghiên cứu cụ thể, bao gồm những vấn đề sau : 1.1 Các khái niệm cơ bản về tình thái Trong ngôn ngữ học, khái niệm tình thái thường được nhiều nhà nghiên cứu hữu quan dùng để chỉ cả một phạm trù những hiện tượng ngữ nghĩa – chức năng rộng lớn, khá đa dạng và rất phức tạp, mà đặc điểm chung nhất của 135 chúng là phản ánh những mối quan hệ khác nhau của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với thực tế, cũng như những quan điểm, thái độ đánh giá và những định tính khác nhau của người nói đối với nội dung miêu tả trong câu, xét trong mối quan hệ với người nghe, với hoàn cảnh giao tiếp. Không thể tưởng tượng được rằng, một nội dung nhận thức và giao tiếp hiện thực nào mà lại không gắn liền với những nhân tố như đã nêu ở trên. Nếu không có tình thái, nội dung thể hiện trong câu nói chỉ là những mảnh nguyên liệu rời rạc. Bally đã rất đúng khi cho rằng : “tình thái là linh hồn của phát ngôn”, mà hiểu theo nghĩa rộng hơn, là của ngôn ngữ trong hoạt động nói nói chung.
Nhân tố tình thái là một nhân tố rất quan trọng để phân biệt ngôn ngữ tự nhiên với các hệ thống tín hiệu nhân tạo khác và hệ thống tín hiệu của động vật. Trong các hệ thống ngoài ngôn ngữ tự nhiên, rất khó để truyền đi những thông tin như: à, ư, chăng, chớ, hử (hở-Bắc bộ), phỏng, gì, không, may ra, nhỡ ra, thôi thì, khéo không, ngộ nhỡ, e rằng, có lẽ, chắc là, thảo nào … Bởi vì, những phương tiện chức năng tình thái như vừa nêu trên luôn xuất hiện vào thời điểm phát ngôn và thể hiện nhận thức, thái độ, lập trường của người nói. (Các ví dụ phụ lục trang 2-25) Nói chung, các đặc trưng của tình thái / tính tình thái xoay quanh mối quan hệ giữa người nói, nội dung miêu tả trong phát ngôn và thực tế, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả những nhân tố của quá trình giao tiếp trong quan hệ tương tác nhất định với người nghe. Có thể nói, sự quan tâm đến tình thái là một điều tất yếu trong quá trình phát triển của ngôn ngữ học.
Bởi lẽ, đối với ngôn ngữ tự nhiên của con người, nếu không quan tâm đến các bình diện của tình thái, thì chúng ta cũng sẽ khó có thể hiểu được một cách đầy đủ bản chất của ngôn ngữ, với tư cách là công cụ của con người dùng để phản ánh thế giới trong hoạt động nhận thức và tương tác xã hội. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tình thái: 135 - Trước hết, theo quan niệm của Cao Xuân Hạo thì cần phải phân biệt hai thứ tình thái khác nhau về bình diện: tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn. Trong đó, tình thái của hành động phát ngôn bao gồm sự phân biệt giữa các loại câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến, vốn được ngữ pháp hóa trong hầu hết các thứ tiếng; những câu có giá trị ngôn trung hay tại lời được đánh dấu: câu xác nhận, câu phản bác, câu ngôn hành. Tình thái của lời phát ngôn lại thuộc bình diện nghĩa học, gắn với nội dung được truyền đạt (trong câu trần thuật hoặc câu hỏi).
Nó liên quan đến thái độ của người nói với điều mình nói ra.93] Theo Phạm Hùng Việt (2003) thì “trong một phát ngôn, bên cạnh nội dung chứa đựng thông tin về sự kiện, sự việc, tình trạng… còn có một thành phần thể hiện quan hệ của người nói đối với nội dung thông báo và quan hệ của nội dung thông báo với hiện thực. Thành phần này được gọi là tình thái”.29) Nguyễn Thị Lương (2006) lại cho rằng “tình thái ngữ được hiểu là các biểu thức tình thái chuyên biệt, không nằm trong nòng cốt câu, được dùng để biểu thị một số ý nghĩa tình thái của câu / phát ngôn như ý kiến, sự đánh giá, thái độ, quan hệ của người nói với người nghe và với sự tình được phản ánh trong câu”.1 Các loại tình thái Một cách tổng quát, phần đông các nhà ngữ học phân chia các ý nghĩa tình thái thành ba phạm trù: tình thái khách quan lo gich (alethic), tình thái nhận thức (epistemic) và tình thái đạo nghĩa (deontic). Đây là cách phân chia phổ biến hiện nay trong ngôn ngữ học.1 Tình thái khách quan lo gich (alethic) Khái niệm tình thái khách quan lo gich phản ánh cái nhìn của lo 135 gich học về nội dung của câu. Theo đó, các phán đoán mà câu biểu thị được phân nhóm dựa trên ba tiêu chí là tính khả năng, tính tất yếu và tính hiện thực.
Phán đoán khả năng phản ánh xác suất có mặt hay vắng mặt của một đặc trưng nào đó (Predicate) ở đối tượng (Subject) của phán đoán, tức đối tượng có khả năng mang đặc trưng đó ít nhất trong một thế giới khả hữu (possible world). Phán đoán tất yếu phản ánh đặc trưng được gán cho đối tượng ở mọi điều kiện, tức đối tượng mang đặc trưng đó của thế giới khả hữu. Phán đoán hiện thực đơn thuần xác nhận sự có mặt hay vắng mặt của đặc trưng được gán cho đối tượng. Tình thái khách quan lo gich, như đã nêu ở trên, chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ chung nhất giữa phán đoán với hiện thực mang tính khách quan, bản thể và được coi như là một đặc trưng nội tại của cấu trúc chủ từ – vị từ lo gich, gạt bỏ mọi nhân tố chủ quan như ý chí, sự đánh giá, mức đôï cam kết, thái độ hay lập trường của người nói.
Người nói chỉ trình bày hiện thực lại một cách khách quan như nó vốn có mà thôi. Có thể nói, tình thái khách quan lo gich loại trừ vai trò của người nói, các nhà lo gich nêu ra khái niệm này chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ chung nhất giữa phán đoán với hiện thực, mang tính khách quan, bản thể và chỉ để phục vụ cho việc phân loại các phán đoán.2 Tình thái nhận thức (epistemic) Theo thuật ngữ gốc Hy Lạp thì tình thái nhận thức có nghĩa là “hiểu biết”. Tuy nhiên, nó lại được dùng theo nghĩa rộng hơn, không chỉ liên quan đến tính tất yếu, tính khả năng mà còn liên quan đến mức độ cam kết, tình trạng (status) hiểu biết của người nói, bao gồm cả sự xác nhận cũng như những bảo đảm cá nhân của người nói đối với điều anh ta nói ra trong câu. Trường hợp không đánh dấu về tình 135 thái nhận thức là trường hợp người nói xác nhận hoàn toàn (categorical assertion) tính chân thực của điều được nói ra, còn trường hợp được đánh dấu về tình thái nhận thức là trường hợp người nói thể hiện những mức độ cam kết thấp hơn.103] Tình thái nhận thức, về bản chất là mang tính chủ quan.
Bởi lẽ, tất cả cơ sở bằng chứng và sự suy luận mà người nói đưa ra đều nhằm chỉ ra mức độ cam kết của người nói, tức là người nói đưa ra một nhận định nhưng hạn chế thực cách (validity) của nó bằng cách nêu thêm những bằng chứng và cơ sở suy luận mà người nói có được.3 Tình thái đạo nghĩa (deontic) Tình thái đạo nghĩa liên quan đến “tính hợp thức về đạo đức hay các chuẩn mực xã hội (social norm) khác đối với hành động do một người nào đó hay chính người nói thực hiện” (Palmer 1986) [8, tr.110] - Tình thái đạo nghĩa cũng thể hiện tính chủ quan giống như tình thái nhận thức, nhưng tính chủ quan này lại thể hiện ở thái độ, ý chí và mong muốn của người nói đối với hành động. “Người nói cho rằng hành động là bắt buộc, là bị cấm đoán, là được phép hay được miễn trừ mà qua đó, người nói có thể thể hiện ý chí, mong ước người nghe thực hiện hành động hay tự mình cam kết hành động”.110] Ví dụ 1: - The King wishes me to leave for France now. I wish you healthy in my absent. Please write to me often.
(- Đức vua muốn anh phải đi Pháp ngay bây giờ. Anh mong em luôn mạnh khoẻ trong thời gian anh vắng mặt).14-15] Ví dụ trên đây cho thấy rằng người nói bị bắt buộc thực hiện hành động mặc dù bản thân không mong muốn (phải đi). - Ngoài ra, tình thái đạo nghĩa còn có tính không thực hữu, điều này 135 được thể hiện ở hành động tương lai mà người nói muốn người nghe thực hiện hay tự mình thực hiện. Ví dụ 2: - No matter what does it take - Laerters screamed – I will surely avenge my father’s death! (- Dù thế nào đi chăng nữa – Laerters gào lên – Ta nhất định phải báo thù cho cái chết của cha ta!) [82, tr.62-63] Người nói muốn tự mình phải thực hiện hành động báo thù cho cha và nhận thức rằng “việc báo thù cho cha” là “chắc chắn” phải / nên “thực hiện” như một nghĩa vụ / đạo lí do biểu thức ngôn từ “will surely avenge” thể hiện.
Ví dụ 3: - If you are a true man, let’s go of that cup and give it to me to drink.96-97] Ví dụ 4: - Nếu cô không nói ra sẽ có ngày tôi đánh chìm con thuyền cùng tất cả xuống lòng sông. Tôi chỉ cần nhìn con Mơ là tôi biết.81] Dễ dàng thấy rằng với kiểu dùng câu điều kiện như hai ví dụ trên thì khả năng trở thành hiện thực của biểu thức là rất hiếm. - Tình thái đạo nghĩa còn được thể hiện qua những đánh giá đối với hành động trong quá khứ. Ví dụ 5: - Farewell! – cried the Queen as she dropped white roses over the coffin – I had hoped you would be my Hamlet’s wife, but now this grave is your permanent bed.78-79] Rõ ràng là ở phát ngôn này, hoàng hậu với tư cách là bà mẹ của đứa con trai đã thể hiện được tình cảm của mình như một đạo lí của người mẹ trước một sự tình: vị hôn thê của đứa con trai yêu quí của mình mất.
Ngữ đoạn “had hoped you would be my Hamlet’s wife…” ở đây thể hiện một tình thái đạo nghĩa khá rõ ràng trước sự việc đã xảy ra với vợ chưa cưới của con trai. Tuy nhiên, cách phân chia này thực ra chỉ nhằm vào một số kiểu ý nghĩa tình thái mà thôi. Nó không bao quát được rất nhiều kiểu ý nghĩa tình thái khác.2 Những phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt Trong tiếng Việt, ngoài ngữ điệu thì các phương tiện từ vựng đóng một vai trò hết sức quan trọng.