Chương 1: Những cơ sở lý thuyết có liên quan Nhiệm vụ của chương này là đưa ra những cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài. Đây là chương có tính chất lý luận và định hướng quan trọng làm tiền đề cho những khảo sát cụ thể ở những chương sau. Chương 2: Tiêu chí nhận diện câu cầu khiến tiếng Việt. Nội dung của chương này là lí giải khái niệm câu cầu khiến, xác định các tiêu chí nhận diện câu cầu khiến sau khi thảo luận về các quan điểm nghiên cứu câu cầu khiến trong ngôn ngữ học truyền thống và hiện đại.
Chương 3: Sự hoạt động của những yếu tố thể hiện lịch sự trong câu cầu khiến tiếng Việt. Chương này dành để phân tích các đặc điểm riêng của tính lịch sự, các yếu tố ảnh hưởng đến tính lịch sự khi cầu khiến và chỉ ra các phương thức để đảm bảo tính lịch sự trong cầu khiến tiếng Việt. 5 z PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN 1. Lý thuyết hành động ngôn từ với việc phân biệt câu và phát ngôn Khái niệm lực ngôn trung gắn liền với lý thuyết hành động ngôn từ hay nói một cách khác, lý thuyết hành động ngôn từ nghiên cứu lực ngôn trung của câu nói.
Năm 1955 tại trường tổng hợp Havard (Mỹ), J.Austin, một nhà triết học người Anh đã trình bày 12 chuyên đề. Những chuyên đề này, năm 1962, hai năm sau ngày ông mất được chính các học trò của ông tập hợp lại xuất bản thành sách với nhan đề “How to do things with words” (Nói là hành động). Austin nhận thấy rằng, cho đến thời gian đó, các nhà ngữ nghĩa học chỉ quan tâm tới nghĩa miêu tả của câu, xem chúng là đối tượng nghiên cứu cơ bản. Nghĩa miêu tả của câu là nghĩa có thể được đánh giá theo tiêu chuẩn đúng – sai logic.Cô ấy đẹp.
Mục tiêu chính của Austin là xem xét lại điều mà ông nhìn nhận như là ngụy thuyết miêu tả: quan điểm cho rằng cái chức năng của ngôn ngữ được quan tâm duy nhất về mặt triết học là chức năng xây dựng những phán đoán đúng hay sai. Ông đã phê phán cái thuyết cho rằng câu chỉ có nghĩa khi chúng biểu thị những mệnh đề có thể kiểm tra được tính đúng hay sai bằng các ví dụ sau: 6 z a.Cannibalism is wrong (Tục ăn thịt người là sai lầm).Monet is a better painter than Manet (Monet là họa sĩ tài năng hơn Manet). Austin đã chỉ ra rằng, các câu trên không thể dùng để biểu thị các phán đoán mang tính miêu tả mà chỉ có thể được dùng để biểu cảm, tức biểu thị những xúc cảm của con người hoặc có thể cho rằng mặc dù những câu như vậy có thể được dùng để biểu thị các phán đoán đúng – sai thì cái mà người nói biểu thị, khi nói những câu đó, là những thái độ riêng (chúng tôi nhấn mạnh – PTC) của họ hoặc của ai đó hơn là hiện thực khách quan. Austin cho rằng, có những phát ngôn được thực hiện không nhằm miêu tả các sự vật, sự việc; chúng không phải là những báo cáo về hiện thực mà là nhằm làm một việc gì đó và những phát ngôn như vậy không thể đánh giá nội dung theo tiêu chuẩn đúng – sai logic.
Austin đã gọi những câu như vậy là những phát ngôn ngôn hành. Austin đã lần đầu tiên nêu ra sự phân biệt giữa phát ngôn tường thuật và phát ngôn ngôn hành. Theo định nghĩa, phát ngôn tường thuật là phát ngôn nêu nhận định. Phát ngôn ngôn hành, trái lại, là phát ngôn mà khi nói ra chúng, người nói hay người viết ra đã làm một điều gì đấy hơn là nói một điều gì đấy [64, 249].Cháu mời chú uống nước.Tôi xin lỗi anh.
Nội dung những câu như trên không thể có giá trị chân lí, nghĩa là người ta không thể nói rằng nó đúng sự thật hay sai sự thật, như khi nói về phát ngôn trần thuật bình thường. Tuy nhiên, ở bước phát triển tiếp theo trong lý thuyết của mình, Austin cho rằng, tất cả các phát ngôn đều là phát ngôn ngôn hành. Tất cả các phát ngôn đều thể hiện những hành động bằng lời nào đó. Những phát ngôn như: Anh ăn cơm chưa?; Ai ngủ?; Bao giờ chị về?.
đều được dùng để thực hiện 7 z hành động hỏi. Đến đây, Austin đã nêu ra sự phân biệt giữa phát ngôn ngôn hành tường minh và phát ngôn ngôn hành nguyên cấp. Phát ngôn ngôn ngôn hành tường minh trước hết là các phát ngôn có chứa những động từ gọi là động từ ngôn hành (hứa, mời, xin lỗi, khuyên, đề nghị.), ở hiện tại và chủ thể của động từ ngôn hành là người nói. Còn phát ngôn ngôn hành nguyên cấp là phát ngôn không chứa động từ ngôn hành.
Đồng thời, Austin cũng phân biệt ba loại hành động ngôn ngữ trong một phát ngôn: 1)Hành động tạo lời (sử dụng các yếu tố ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng.) để tạo ra một phát ngôn có nội dung và hình thức nào đấy); 2)Hành động tại lời (hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng); 3)Hành động mượn lời (thông qua câu nói mà tác động vào tâm lí của người nghe làm vui mừng, xúc động, yên tâm. Cái mà Austin gọi là hành động tạo lời chính là việc tạo ra một phát ngôn (tức phát – ngôn – thành – phẩm) với một dạng thức cụ thể và một ý nghĩa ít nhiều xác định. Người ta có thể phát ngôn ra cùng một câu mà không nhất thiết phải nói cùng một nội dung cũng như họ có thể nói cùng một nội dung mà không nhất thiết phải phát ngôn ra cùng một câu. Người ta có thể xác nhận cùng một mệnh đề bằng cách nói ra những câu khác nhau.
Ví dụ: Mẹ mắng tôi. Tôi bị mẹ mắng. Ngược lại, người ta có thể xác nhận những mệnh đề khác nhau bằng cách nói ra cùng một câu trong những ngữ cảnh khác nhau và bằng cách gán những giá trị khác nhau cho các biểu thức quy chiếu trong câu đó [64, 253]. Ví dụ câu: Bạn tôi đang đợi tôi.
có thể biểu thị vô số những mệnh đề khác nhau tùy thuộc vào giá trị được gán cho “bạn tôi”, “tôi” và cái thời gian được quy chiếu bởi thời của động từ. Và như vậy, đến đây chúng ta thấy rằng có một sự phân biệt quan 8 z trọng giữa việc phát ngôn ra câu và việc xác nhận mệnh đề hay là sự phân biệt giữa phát ngôn (hành vi) và câu (kiểu câu). Ngữ pháp truyền thống đã lầm lẫn giữa hai khái niệm này. Câu là thuộc bình diện ngữ pháp còn phát ngôn là thuộc bình diện ngữ dụng.
“Câu không phải là một sự kiện vật chất, cũng không phải là một đối tượng vật chất. Hiểu một cách trừu tượng, nó là một chuỗi các từ đặt cạnh nhau theo một quy tắc ngữ pháp của mỗi một ngôn ngữ” [2, 18]. Còn phát ngôn “là một chuỗi lời nói bất kì do một người nói ra, trước và sau nó có một khoảng im lặng về phía người nói” [2, 17]. Như vậy, phát ngôn là một sự kiện vật chất, nó chóng lụi tàn, tắt theo luồng hơi thở.
Một câu nói với tư cách là đơn vị giao tiếp, được hiện thực hóa trong một thời gian cụ thể, không gian cụ thể thì được gọi là một phát ngôn. Một câu nói có thể giống nhau ở nhiều người nhưng cũng phải được coi là những phát ngôn khác nhau. Phát ngôn phụ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh, một phát ngôn có thể giống hoàn toàn về mặt từ ngữ, trật tự từ so với phát ngôn trước đó nhưng ý định phát ngôn đã có thể khác đi. Câu thì không lệ thuộc vào ngôn cảnh.
Có thể nói rằng câu là một chuỗi các từ kết hợp theo các quy luật ngữ pháp ẩn mình đằng sau các dạng hiện thực hóa khác nhau là phát ngôn. “Nói chung, phát ngôn được xây dựng trên câu. Không có câu thì không có phát ngôn” [Dẫn theo Đỗ Hữu Châu]. Sự phân biệt ở đây là phát ngôn với tư cách là đơn vị lời nói, có những thuộc tính phi ngôn ngữ học như thời gian và địa điểm phát ngôn, ý định của người nói.
Về dụng học, một phát ngôn gắn với thời điểm phát ngôn, một mệnh đề P đúng trong một thời điểm này nhưng lại không đúng trong một thời điểm khác. “Nêu ra một nhận định hay một sự xác nhận thì không phải thực hiện một hành động tạo lời kiểu này chứ không phải tạo lời kiểu nọ; đó là sự thực hiện một hành động tạo lời mà sản phẩm của nó, tức một hiện dạng – phát ngôn mang một lực ngôn trung khác” [64, 248]. 9 z Chúng ta sử dụng ngôn ngữ để hỏi, để yêu cầu, để đe dọa và cả để thực hiện các hành động ngôn hành, nghĩa là có nhiều chức năng khác nhau mà ngôn ngữ có thể thực hiện và tương ứng là có nhiều lực ngôn trung khác nhau. Nhưng số lượng lực ngôn trung trong ngôn ngữ nói chung là bao nhiêu thì cho đến nay, người ta vẫn chưa thể thống kê hết được.
Lực ngôn trung phụ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh. Lực ngôn trung hay hiệu lực tại lời của phát ngôn bị quy định bởi 3 nhân tố: + Dạng thức ngôn ngữ của phát ngôn. + Ý định của người nói. + Khả năng hiểu của người nghe.Tôi nói sao được.
Cả ba câu trên đều phản ánh sự tình “tôi không nói” nhưng cách dùng khác nhau. Câu b) để từ chối, câu c) để thanh minh, còn câu a) có tiềm năng cho cả hai cách dùng. Để từ chối lời đề nghị “Cô nói với anh ấy việc này giúp tôi”, có thể dùng a) hoặc b) nhưng không thể dùng c). Đứng trước lời trách móc “Sao cô lại nói việc này với anh ấy”, có thể thanh minh bằng a) hoặc c) nhưng không thể dùng b) để thanh minh.
Trở lại với đối tượng nghiên cứu của luận văn, đối với việc tìm hiểu các yếu tố lịch sự trong câu cầu khiến tiếng Việt, chúng tôi thực hiện nghiên cứu của mình trên cơ sở tư liệu là câu cầu khiến được sử dụng trong giao tiếp với tư cách là các phát ngôn có lực ngôn trung (hiệu lực tại lời) đích thực là cầu khiến. Vấn đề tình thái trong ngôn ngữ học Vấn đề tình thái đã được nghiên cứu từ lâu trong logic học và trong ngữ pháp truyền thống. Trong những năm gần đây, vấn đề này nổi lên như là trung 10 z tâm chú ý và được đi sâu nghiên cứu trong ngôn ngữ học. Tuy nhiên , khái niệm tình thái được các tác giả hiểu không giống nhau.