Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Khái niệm về từ, ngữ 1. Khái niệm từ Từ là một trong những khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học. Khi nghiên cứu bất cứ một ngôn ngữ nào người ta cũng không thể bỏ qua việc xác định đơn vị này.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về từ, bởi ở mỗi loại hình ngôn ngữ khác nhau, từ cũng có những đặc điểm riêng của mình. Vấn đề “từ” trong tiếng Việt cũng vậy, nó là vấn đề thuộc về lý luận cơ bản, vì toàn bộ hệ thống miêu tả ngôn ngữ phụ thuộc vào nó. Từ không chỉ là đơn vị cơ bản của từ vựng mà còn là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ nói chung. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ.
Cho đến nay, chưa có một định nghĩa nào lý tưởng về từ có thể áp dụng cho mọi ngôn ngữ, bởi mỗi ngôn ngữ có những nét riêng biệt. Theo định nghĩa của tác giả Nguyễn Thiện Giáp, định nghĩa phổ biến hiện nay được nhiều nhà ngôn ngữ học cho là phù hợp về từ là: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [6, tr.61] Đối với tiếng Việt, những tiếng như: hai, ba, ăn, ngủ, tôi nhà, tốt, đẹp,… và, tuy, nhưng…. đều được mọi người nhất trí coi là từ. Từ là đơn vị cơ bản của tiếng Việt và là đơn vị có thể đảm nhiệm nhiều chức năng nhất: - Chức năng cơ bản của từ là chức năng định đanh, nhưng trong dãy ngữ đoạn, từ còn mang chức năng “phân biệt nghĩa” bộc lộ ý nghĩa này hay ý nghĩ khác của những từ nhiều nghĩa.
- Từ tham gia vào các mối liên hệ từ vựng trong ngữ đoạn. Chính đặc điểm này đã biến từ trở thành một loại đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, nằm trên giao điểm của hai trục tọa độ cơ bản trong tổ chức cấu trúc của ngôn ngữ - trục đối vị (trục dọc) và trục nối tiếp (trục ngang). - Cấu trúc ngữ nghĩa của từ rất phức tạp, trong đó có cả nhân tố từ vựng lẫn nhân tố ngữ pháp. 11 So với từ của các ngôn ngữ Ấn Âu thì từ của tiếng Việt có những đặc điểm sau: - Từ tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa.
Ví dụ: ăn là một từ có nghĩa, nhưng nếu phân tích ra thành /ă/ /n/ thì đó chỉ là những âm hoàn toàn không có nghĩa. - Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (ví dụ: trời và giời, trăng và giăng…), biến thể từ vựng - ngữ nghĩa (ví dụ: Các ý nghĩa khác nhau của từ ăn: ăn giải, xe ăn xăng, ăn ảnh, ăn nằm…) nhưng không có biến thể hình thái học. - Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ở trong từ tiếng Việt. Từ những đặc điểm trên của tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã rút ra định nghĩa về từ của tiếng Việt như sau: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền” [6, tr.77] Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”.
Trong đó, các thành phần bên trong từ (thành phần ngữ âm, thành phần ngữ pháp, thành phần cấu tạo, thành phần ý nghĩa) không độc lập với nhau mà quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau thành một tập thể gọi là từ. Và các thành phần ấy có tính đồng loạt chứ không phải chỉ có tính riêng biệt. Chính nhờ tính đồng loạt của các thành phần mà khi gặp một hình thức ngữ âm nào đó, chúng ta mới có thể quyết định nó là từ nào và sử dụng nó theo cách nào. Ví dụ: Khi gặp hình thức ngữ âm “sơn”, dựa vào thành phần ngữ pháp và ý nghĩa chung với các từ tô, bôi, nhuộm…mà chúng ta quyết định và sử dụng nó như một động từ.
12 Theo chúng tôi, mỗi khái niệm đều đề cập đến những khía cạnh khác nhau của từ tiếng Việt. Ví dụ như đơn vị cấu tạo từ, đặc điểm của từ… Tuy nhiên để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi lựa chọn khái niệm về “từ” theo quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu. Khái niệm ngữ Trong quá trình phát triển của dân tộc, một trong những thành tựu quan trọng nhất là sự mở rộng không ngừng những tư tưởng, những khái niệm mà con người có thể truyền đạt được. Con người cần thông báo cho nhau không chỉ cảm xúc, tri thức…mà còn có vô hạn các sự kiện trong đời sống.
Hệ thống các từ trong tiếng Việt không đủ để biểu thị một số lượng lớn như thế các khái niệm, hiện tượng khác nhau. Từ đó phát sinh nhu cầu tất yếu là phải cấu tạo thêm những đơn vị từ vựng mới trên cơ sở những từ đã có sẵn. Những đơn vị như thế được gọi là ngữ, có giá trị tương đương với từ. Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp [7, tr.
537]: “Ngữ là những cụm từ sẵn có trong tiếng Việt, có giá trị tương đương với từ, có nhiều đặc điểm giống với từ”: - Chúng có thể tái hiện trong lời nói như các từ. - Về mặt cú pháp, chúng cũng có thể làm thành phần câu, tức là có tính độc lập về cú pháp. - Về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu hiện những hiện tượng của thực tế khách quan, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người. Tính cố định và tính thành ngữ là hai đặc trưng cơ bản của ngữ.
Nghĩa và sự phát triển nghĩa của từ 1. Nghĩa của từ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Xét về mặt lý thuyết, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu. Mỗi tín hiệu là một tổng thể do sự kết hợp giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện mà thành.
Cái biểu hiện trong ngôn 13 ngữ chính là hình thức ngữ âm, còn cái được biểu hiện là khái niệm (ý nghĩa) hay đối tượng được biểu thị. Hai mặt này luôn gắn kết với nhau, không tách rời nhau, giống như “hai mặt của một tờ giấy vậy”. Nghĩa của từ cùng với hình thức ngữ âm được hình thành và ổn định dần dần trong lịch sử phát triển ngôn ngữ của mỗi dân tộc. “Nghĩa của từ” là một trong những khái niệm quan trọng nhất của ngôn ngữ học.
Có rất nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm này. Một số người cho rằng, nghĩa của từ là sự vật hay hiện tượng do từ biểu thị. Chẳng hạn, theo quan niệm này, nghĩa của từ cây là bản thân cái cây trong thực tế, nghĩa của các từ ăn, nói …từ tốt, xấu… là bản thân hành động, tính chất tương ứng. Theo quan niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt [2, 103], ông cho rằng: Nghĩa của từ là có thể chia thành hai lớp nghĩa là lớp nghĩa cấu trúc hóa và lớp nghĩa liên hội.
Trong lớp nghĩa cấu trúc bao gồm ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp. - Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật. - Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm. - Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái.
Ý nghĩa biểu niệm của từ là thành phần cơ bản của ý nghĩa từ vựng. Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ thành ý nghĩa biểu vật và từ có ý nghĩa biểu vật thì sẽ có ý nghĩa biểu niệm tương ứng. Ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng được sắp xếp theo một tổ chức, một trật tự nhất định. Các từ thuộc các từ loại khác nhau, có cách tổ chức các nét nghĩa khác nhau.
Còn các ý nghĩa biểu niệm của những từ trong một từ loại lại có tổ chức giống nhau. Những con đường phát triển nghĩa của từ a. Mở rộng nghĩa Mở rộng ý nghĩa là một quá trình phát triển từ cái riêng đến cái chung, từ cái cụ thể đến trừu tượng. Ý nghĩa được hình thành nhờ quá trình này gọi là nghĩa mở 14 rộng.
Ví dụ: Tính từ “đẹp”, ban đầu chỉ dùng ở khía cạnh hình thức, nhưng hiện nay dùng rộng rãi ở cả phạm vi tình cảm, tinh thần, quan hệ. Chẳng hạn: tình cảm đẹp, tấm lòng đẹp, đẹp lòng, đẹp lời… b. Thu hẹp nghĩa Thu hẹp ý nghĩa là quá trình ngược lại. Phạm vi ý nghĩa của các từ phát triển từ cái chung đến cái riêng, từ cái trừu tượng đến cái cụ thể.
Ví dụ: Từ “mùi” là cảm giác do cơ quan khứu giác thu nhận được (nước là hợp chất không màu, không mùi, không vị), nhưng khi nói “Miếng thịt có mùi rồi” thì lại có ý nghĩa cụ thể là “mùi hôi”. Tóm lại, mở rộng và thu hẹp ý nghĩa là quá trình chuyển từ khái niệm về loại sang khái niệm về chủng (mở rộng) hoặc chuyển từ khái niệm về chủng sang khái niệm về loại (thu hẹp). Sự phát triển nghĩa của từ luôn đi cùng với sự phát triển của xã hội. Sự biến đổi không ngừng của nghĩa do sự biến đổi của cuộc sống và cách sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo, linh hoạt, giàu hình ảnh của con người đã góp phần làm cho vốn từ vựng của ngôn ngữ ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn.
Sự phát triển ấy theo hai khuynh hướng cơ bản: mở rộng và thu hẹp ý nghĩa, chuyển đổi tên gọi bằng ẩn dụ và hoán dụ. Những đơn vị từ vựng được lựa chọn để phát triển nghĩa thường là những đơn vị mang những giá trị văn hóa ước định của cộng đồng, được mọi người chấp nhận, sử dụng, dễ dàng nhập vào hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa như là một đơn vị khu biệt. Nghĩa là nó được đánh giá thuận lợi cho công việc giao tiếp, được thẩm định về khả năng biểu đạt nghĩa và giá trị thẩm mỹ khi đi vào hành chức. Trên thực tế, cấu trúc ý nghĩa của từ không nhất thành bất biến mà luôn luôn vận động và phát triển.
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Từ và từ vựng học tiếng Việt [6, 162], cho rằng: Có rất nhiều nguyên nhân làm cho một từ phát triển thêm các biến thể từ vựng - ngữ nghĩa, nhưng có thể quy vào các yếu tố cơ bản sau đây.