CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Lý thuyết về trường nghĩa 1.1 Khái niệm trường nghĩa Trường nghĩa là một trong những lí thuyết hết sức quan trọng của Ngôn ngữ học và đã được các nhà nghiên cứu đề cập từ rất sớm.Lí thuyết này bắt nguồn từ những tư tưởng về mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong ngôn ngữ của W. Tiền đề thúc đẩy một cách quyết định sự hình thành nên lí thuyết về các trường là những nguyên lí của F. De Saussure, đặc biệt là luận điểm “giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố xung quanh quy định” và “chính phải xuất phát từ cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng” của ông.
Nói đến lí thuyết về trường nghĩa, ta phải nhắc đến tên tuổi của hai nhà ngôn ngữ người Đức là J. Trier (theo đánh giá của S. Ullmann), lịch sử ngữ nghĩa học đã mở ra một giai đoạn mới. Ông là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “trường” vào ngôn ngữ học và đã thử áp dụng quan điểm cấu trúc vào lĩnh vực từ vựng ngữ nghĩa.
Trier cho rằng, trong ngôn ngữ, mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ khác trong trường quyết định. Weisgerber, ông lại có một quan điểm rất đáng chú ý về các trường – theo ông, cần phải tính đến các “góc nhìn” khác nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự ngôn ngữ hoá một lĩnh vực nào đó của cuộc sống. Các trường kiểu của J. Weisgerber là những trường có tính chất đối vị, gọi tắt là trường trực tuyến (dọc).
Ngoài hai tác giả trên, trường trực tuyến cũng được nhiều nhà ngôn ngữ khác đề cập đến. Có thể kể đến các tác giả như Cazarès, P. Khác với các nhà nghiên cứu trên, W. Porzig lại xây dựng quan niệm về các trường tuyến tính hay trường ngang.
Theo ông, trường là những cặp từ có quan hệ 6 kiểu như “gehen” – “fuber” 10 (“đi” – “chân”), “greifen” – “hand” (“cầm” – “tay”), “sechen” – “auge” (“nhìn” – “mắt”) Đây không phải là những quan hệ chung nhất, những quan hệ ngữ nghĩa tạo nên “các trường cơ bản của ý nghĩa”. Trung tâm của “các trường cơ bản của ý nghĩa” là các động từ và tính từ vì chúng thường đảm nhiệm chức năng vị ngữ trong câu, do đó chúng thường ít nghĩa hơn các danh từ. Ở Việt Nam, trường nghĩa cũng được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Đỗ Việt Hùng. Trong đó, Đỗ Hữu Châu là người đi đầu trong việc đưa ra lí thuyết về trường nghĩa cũng như những phạm trù ngôn ngữ liên quan đến trường nghĩa.
Ông đã vận dụng lí thuyết về trường nghĩa của các tác giả nước ngoài để xây dựng những quan niệm của mình về trường nghĩa. Đỗ Hữu Châu định nghĩa: Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa [8, 171]. Quan điểm này lấy tiêu chí ngữ nghĩa làm cơ sở cho việc phân lập trường nghĩa.
Luận văn của chúng tôi lấy quan niệm về trường nghĩa của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở lí thuyết để nghiên cứu. Tiêu chí và cách phân loại 1. Tiêu chí xác lập trường nghĩa Nghiên cứu khi đưa ra quan niệm riêng về trường nghĩa cũng đồng thời có cách phân loại riêng. Ở mỗi loại trường nghĩa đều được xác lập dựa trên những tiêu chí nhất định.
Căn cứ vào hình thái và chức năng của từ I.Psen xây dựng các trường trừ vựng – ngữ pháp.Mỗi trường nghĩa thuộc loaij này bao gồm những từ họ hàng với nhau về ý nghĩa và hình thức. Hicking lại xây dựng trường nghĩa căn cứ vào từ ghép, trong phạm vi một trường từ vựng duy nhất, tức là trong các từ ghép, chỉ có thể tập hợp các từ thuộc cùng một phạm vi biểu tượng, những trường như thế gọi là trường cấu tạp từ. Kiểu trường nghĩa phổ biến nhất là nhóm từ vựng – ngữ nghĩa, phân lập từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường từ vựng ngữ nghĩa là để phát hiện ra tính hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa và qua đó tìm ra và giải 11 thích các cơ chế đồng loạt chi phối sự sáng tạo nên đơn vị và hoạt động của chúng trong quá trình sử dụng ngôn ngữ. Đỗ Hữu Châu cho rằng, có thể phân loại hai trường từ vựng - ngữ nghĩa lớn gồm: trường biểu vật và trường biểu niệm.
Hai trường này không loại trừ nhau và có mối liên hệ với nhau, nhưng về nguyên tắc, phải phân biệt chúng với nhau. Mỗi loại trường này có cách chi phối riêng hoạt động của từ trong giao tiếp, trong sự tạo lập nên thông điệp. Phân loại trường nghĩa Dựa vào hai quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ là quan hệ dọc và quan hệ ngang, Đỗ Hữu Châu chia trường nghĩa tiếng Việt thành các loại khác nhau: trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm (hai trường nghĩa dựa vào quan hệ dọc); trường nghĩa tuyến tính (dựa vào quan hệ ngang) và trường nghĩa liên tưởng (dựa vào sự kết hợp giữa quan hệ dọc và quan hệ ngang). Phân định và xác lập một trường nghĩa về cơ bản dựa trên bảy tiêu chí sau: Thứ nhất: Do các trường nghĩa là các sự kiện thuộc phạm trù ngôn ngữ nên việc phân lập chúng trước tiên phải dựa vào các tiêu chí ngôn ngữ - những ý nghĩa ngôn ngữ.
Ý nghĩa ngôn ngữ chính là ý nghĩa của từ, cơ sở để xác lập từ thành trường. Thứ hai: Phải tìm được các trường hợp điển hình - từ điển hình. Nó sẽ tạo ra một lực nghĩa “thu hút, hấp dẫn” các từ khác vào cùng trường. Theo tiêu chí này, các trường nghĩa có ranh giới tương đối có thể độc lập hoặc giao nhau hay thậm chí là bao hàm lẫn nhau.
Thứ ba: Dựa vào các lớp ý nghĩa biểu vật và biểu niệm, có thể phân biệt trường biểu vật và trường biểu niệm. Thứ tư: Với trường biểu vật tiêu chí xác lập chỉ là sự đồng nhất ở một nét nghĩa biểu vật. Thứ năm: Với trường nghĩa biểu niệm, tiêu chí xác lập chỉ là sự đồng nhất ở một nét nghĩa biểu niệm. 12 Thứ sáu: Với trường tuyến tính tiêu chí xác lập là dựa hẳn vào ngữ nghĩa từ trung tâm.
Từ này phải đáp ứng được yêu cầu về quan hệ ngữ nghĩa - ngữ pháp của các từ trong trường. Thứ bảy: Với trường liên tưởng, cơ sở để tạo lập trường là các nghĩa ngữ dụng của từ trung tâm. Đó là những nghĩa mới được tạo ra trong quá trình từ hành chức, chưa đi vào hệ thống. Từ trung tâm khi cùng xuất hiện với loạt các từ nào đấy trong nhiều ngữ cảnh trùng lặp khi đó chúng sẽ tạo thành một trường nghĩa liên tưởng mà ở đó, các từ có quan hệ với nhau nhờ mối liên tưởng ngữ nghĩa nào đó.
Theo các tiêu chí trên hệ thống từ vựng ngữ nghĩa của một ngôn ngữ có thể được phân lập ra các loại trường nghĩa: + Hướng phân loại dọc - ngang - Trường nghĩa dọc - Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) + Hướng phân loại ý nghĩa - Trường biểu vật - Trường biểu niệm - Trường liên tưởng a)Trường nghĩa biểu vật (trường biểu vật) Trường biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biếu vật. Mỗi một trường nghĩa biểu vật thường có từ trung tâm là danh từ. Danh từ này có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật. Các danh từ này cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể thu hẹp ý nghĩa của từ.
Dựa vào danh từ trung tâm người ta xác lập trường nghĩa biểu vật. Các trường biểu vật khác nhau về số lượng, cách thức tổ chức các đơn vị, miền phân bố. Vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật nên một từ có thể nằm trong nhiều trường khác nhau, từ đó dẫn đến hiện tượng “thẩm thấu”, “giao thoa” giữa các trường. Hai trường biểu vật “giao thoa” với nhau khi một hoặc một số từ của trường này 13 nằm trong trường kia, số lượng chung của hai trường càng ít thì tính độc lập của chúng càng cao.Trong một trường biểu vật, quan hệ của các từ ngữ đối với trường là không giống nhau.
Những từ có nghĩa biểu vật gần với từ trung tâm sẽ gắn chặt với trường tạo thành “lõi” của trường. Ngoài “lõi” là các lớp từ gắn bó với trường theo chiều hướng lỏng lẻo dần. b)Trường nghĩa biểu niệm (trường biểu niệm) Trường biếu niệm là một tập hợp từ có chung một cấu trúc biếu niệm. Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể được phân thành các trường nhỏ hơn với những miền, những mật độ khác nhau.
Các trường biểu niệm cũng “giao thoa”, “thẩm thấu” vào nhau, cũng có lõi trung tâm là các từ điến hình và các lớp ngoại vi là những từ kém điển hình. c) Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) Như đã nói ở trên, tiêu chí đế phân loại trường tuyến tính là dựa hẳn vào ngữ nghĩa từ trung tâm. Để lập các trường tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả các từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính chấp nhận được trong ngôn ngữ. Vậy, các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản.
Bằng việc phân tích ý nghĩa của chúng, ta có thế phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó. Cùng với các trường nghĩa dọc, trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ. d)Trường nghĩa liên tưởng (trường liên tưởng) Sự phân lập ra các trường biếu vật và biếu niệm như trên là cần thiết đế tìm hiểu những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ pháp, phát hiện những đặc điểm nội tại và đặc điểm hoạt động của từ. Nhưng đó mới chỉ là sự phân tích “cấu trúc bề mặt” của ngôn ngữ, trong ngôn ngữ còn có “cấu trúc bề sâu”.
Đó là lí do để xác lập trường liên tưởng. 14 Như thế, các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm. Ý nghĩa liên hội là ý nghĩa được hình thành do liên tưởng, do sử dụng.