phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phụ lục gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của luận văn Chƣơng 2: Đặc điểm cấu tạo của thành ngữ có thành tố là con số Chƣơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ có thành tố là con số 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 1. Khái niệm thành ngữ và nhận diện thành ngữ 1. Khái niệm về thành ngữ. Từ xƣa đến nay thành ngữ luôn đƣợc xem là loại hình ngôn ngữ đặc sắc, thành ngữ vốn gắn liền vói lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân, ngôn ngữ của nó rất bình dân, gần gũi với mọi tầng lớp xã hội cho nên thành ngữ đã xuất hiện trong các câu thơ, câu văn để làm tăng thêm tính cô đọng, hàm súc, dễ hiểu, dễ đọc.
Chính vì thế, mà việc sử dụng thành ngữ đã trở thành phƣơng tiện phổ biến giàu tính thuyết phục, và trở thành đối tƣợng thu hút đƣợc sự chú ý quan tâm của các nhà nghiên cứu. Cũng từ nhiều khía cạnh nghiên cứu khác nhau, nên có sự xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau, trong cách dùng nhiều từ thành ngữ khác nhau. Sau đây là một số quan niệm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ về thành ngữ: Tác giả Đỗ Hữu Châu với công trình nghiên cứu “Các bình diện của từ và từ tiếng Việt” không dùng khái niệm để định nghĩa về thành ngữ mà ông chỉ nói đến tính chặt chẽ về ý nghĩa thƣờng đồng nhất với tính thành ngữ nhƣ sau: “Cho một tổ hợp có một ý nghĩa s do các đơn vị A, B, c .mang ý nghĩa lần lƣợt SI, S2, S3,. tạo nên, nếu nhƣ ý nghĩa S không thể giải thích các ý nghĩa Sl” S2, S3,.thì tổ hợp A, B, C có tính thành ngữ” [4;261].
Vũ Ngọc Phan trong quyển 2 “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam tập 3” cho rằng: “Thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều ngƣời đã quen dùng nhƣng tự riêng nó không diễn đạt đƣợc một ý trọn vẹn” [48;48]. Hoàng Văn Hành trong quyển “Thành ngữ học tiếng Việt” cho rằng: “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chinh, bóng bẩy về ý nghĩa, đƣợc sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ” [16; 19]. Đái Xuân Ninh trong “Hoạt động của từ tiếng Việt” đã khắng định 9 rằng: “Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành đã mất tính độc lập ở cái mức độ nào đó và kết hợp lại thành một khối tƣơng đối vững chắc và hoàn chỉnh” [45;212]. Theo quan niệm của Nguyễn Hữu Huỳnh trong quyển “Tiếng Việt hiện đại”: “Thành ngữ là một cụm từ cố định có tính hoàn chỉnh về nghĩa, có sắc thái biểu cảm, có tính hình tƣợng và tính cụ thể.
Phần lớn thành ngữ đồng nghĩa hoặc tƣơng đƣơng với một từ (danh từ, động từ, tính từ)” [25;212]. Nguyễn Văn Mệnh “Ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ” lại cho rằng: “Thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tƣợng,một trạng thái, một tính cách, một mức độ” [39; 13]. Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ và nhận diện từ tiếng Việt” đã nói rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có giá trị gợi tả tính hình tƣợng là đặc trƣng cơ bản của thành ngữ. Thành ngữ biểu thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tƣợng cụ thế.
Tính hình tƣợng của thành ngữ đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở của hiện tƣợng so sánh và ẩn dụ” [12;181]. Cù Đình Tú trong “Phong cách học tiếng Việt và đặc điểm tu từ tiếng Việt” ông quan niệm thế này: “Thành ngữ là những tổ hợp từ có sẵn (cụm từ cố định) trong ngôn ngữ có chức năng định danh nhƣ: từ dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hoạt động [78;274]. Ông đã khái quát về những thành ngữ khá hoàn chỉnh về hình thức lẫn nội dung. Tác giả Nguyễn Văn Tu với công trình nghiên cứu “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” đã nhận định: “Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các từ trong đó, đã mất tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối hoàn chỉnh vững chắc.
Nghĩa của nó không phải do nghĩa của từng thành tố tạo ra. Những thành ngữ này có tính hình tƣợng hoặc cũng có thể không có. Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhƣng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học” [76; 181]. Tác giả Hồ Lê ở cuốn “Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại” có nói: 10 “Thành ngữ là những tổ hợp từ (bao gồm nhiều từ hợp lại có tính chất vững chắc về cấu tạo, và bóng bẩy về ý nghĩa dùng để miêu tả một hình ảnh, một hiện tƣợng, một tính cách hay một trạng thái nào đó” [34;97].
Quan niệm Dƣơng Quảng Hàm trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu”: “Thành ngữ là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại đã lập thành sẵn. Ta có thể mƣợn để diễn đạt một ý tƣởng của ta khi nói chuyện hoặc viết văn” [15;9]. Nhìn chung các tác giả có nhiều quan niệm khác nhau về thành ngữ nhƣng khách quan mà nói thì đa số các tác giả điều thống nhất với nhau rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định hoặc những tổ hợp từ mang tính chất vững chắc về cấu tạo, đặc biệt là hình thức và nội dung hoàn chỉnh. Không những vậy mà các quan niệm còn nêu đƣợc tính hình tƣợng, tính biểu cảm và tính gọt giũa bóng bẩy của thành ngữ”.
Trên cơ sở tổng hợp các quan niệm và cách lập luận khác nhau về thành ngữ của các tác giả, ta có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về thành ngữ tiếng Việt nhƣ sau: Thành ngữ là những cụm từ cố định đƣợc dùng để định danh cho các sự vật, hiện tƣợng, tính chất, hành động. Thành ngữ có nội dung và hình thức khá hoàn chỉnh. Nghĩa của thành ngữ có tính hình tƣợng, tính gợi cảm và hình thức diễn đạt có tính bóng bẩy, trau chuốt, giàu tính biểu cảm.2 Nhận diện thành ngữ 1.1 Phân biệt thành ngữ và từ ghép Thành ngữ và từ ghép có một số điểm giống nhau, đều là những đơn vị ngôn ngữ cố định, có sẵn và đều có chức năng định danh. Hai đơn vị này đều thuộc cấp độ từ.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, thành ngữ có thể phân biệt khá rõ với từ ghép ở phạm vi rộng hẹp và mức độ nông sâu trong nội dung ý nghĩa của chúng. Tuy nhiên, ở một số đơn vị ngôn ngữ cụ thể nhƣ: trẻ măng, dẻo kẹo, đen thui.hoặc mắt lươn, má bánh đúc, mặt trái xoan thì lại thật khó phân biệt các đơn vị này là thành ngữ hay từ ghép. Trƣơng Đông San cho rằng, các đơn vị ngôn ngữ cụ thế này là những thành ngữ so sánh có cấu trúc AB (không có từ so sánh), còn Đồ Hữu Châu lại cho rằng đây là những 11 trƣờng hợp trung gian giữa thành ngữ và từ ghép. Theo Hoành Văn Hành, có thể dựa vào tiêu chí định lƣợng để phân biệt các trƣờng hợp trên bởi trong tri nhận của ngƣời Việt, thành ngữ thƣờng có ít nhất 3 âm tiết trở lên.
Bởi thế, các đơn vị nhƣ trẻ măng, dẻo kẹo, đen thui. có thể xếp vào nhóm từ ghép. Ngoài tiêu chí định lƣợng, việc phân biệt thành ngữ và từ ghép có thể dựa vào tiêu chí kết cấu và ý nghĩa. Về kết cấu, trong từ ghép, mối quan hệ giữa các thành tố đơn giản, ít bậc.
Còn trong thành ngữ, mối quan hệ này phức tạp và có nhiều tầng bậc hơn. Về ý nghĩa, từ ghép chỉ thuần túy gọi tên sự vật hiện tƣợng. Còn thành ngữ thì gọi tên sự vật hiện tƣợng một cách gợi cảm. Ý nghĩa của thành ngữ mang tính hình tƣợng, tính biểu cảm cao.2 Phân biệt thành ngữ và cụm từ tự do Thành ngữ và cụm từ tự do có mối quan hệ khá mật thiết và có nhiều điểm giống nhau.
Cụm từ tự do là những kết hợp ngôn ngữ đƣợc tạo ra trong quá trình giao tiếp. Cụm từ tự do và thành ngữ đều là những đơn vị lớn hơn từ, do từ tạo nên. Nhƣng giữa hai đơn vị này vẫn tồn tại những điểm khác biệt. Về kết cấu, thành ngữ có kết cấu chặt chẽ, cố định và ổn định.
Còn cụm từ tự do thì lại có kết cấu lỏng lẻo, dễ bị phá vỡ. Thành ngữ tồn tại ở dạng sẵn có còn cụm từ tự do lại đƣợc tạo ra trong quá trình giao tiếp. Tùy vào những tình huống cụ thể mà ngƣời tạo lập tạo ra những cụm từ tự do khác nhau và khi hoạt động giao tiếp kết thúc thì cụm từ đó cũng không còn tồn tại. Về cơ chế tạo nghĩa, nghĩa của thành ngữ có tính ổn định.
Nghĩa của thành ngữ thƣờng bóng bẩy, gợi cảm, đƣợc tạo thành nhờ các biện pháp ẩn dụ, hoán dụ. Còn nghĩa của cụm từ tự do là sự kết hợp lâm thời của các từ tao nên nó. Nghĩa này sẽ mất đi khi hoạt động giao tiếp kết thúc.3 Phân biệt thành ngữ và tục ngữ Để nhận diện thành ngữ, truyền thống ngữ văn học của ta đã có nhiều 12 cố gắng nhằm xác định ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ. Theo cách hiểu thông thƣờng thì tục ngữ là những câu nói có sẵn, đƣợc lƣu truyền trong dân gian, về nội dung, tục ngữ thƣờng đúc kết những kinh nghiệm sống thực tế của con ngƣời trong quá trình lao động sản xuất, đấu tranh chinh phục tự nhiên, về cấu tạo, tục ngữ thƣờng có cấu tạo là một câu.
Tục ngữ và thành ngữ có nhiều điểm tƣơng đồng. Chúng đều là những đơn vị có sẵn, có tính cố định, ổn định và chặt chẽ về hình thái cấu trúc. Chúng đều là những cách nói giàu hình ảnh, giàu biểu cảm, đúc kết từ thực tế cuộc sống. Thành ngữ và tục ngữ đều phản ánh nếp cảm, nếp nghĩ của ngƣời dân, chủ yếu là ngƣời dân lao động.
Môi trƣờng hình thành thành ngữ, tục ngữ đều từ trong cuộc sống thôn quê, trong lao động sản xuất và từ trong giao tiếp hàng ngày. Cả thành ngữ và tục ngữ đều là kết tinh lời ăn, tiếng nói một cách hồn nhiên nhất, trung thực nhất của nhân dân, đều chứa đựng những nét văn hóa bản thể của dân tộc (nền văn hóa nông nghiệp, trọng tình nghĩa, thực tế, giản dị…) Cả thành ngữ và tục ngữ đều đƣợc sử dụng rộng rãi, tự nhiên và phổ biến trong xã hội.