CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Lý thuyết về hư từ 1. Hư từ và phân loại hư từ trong Tiếng Việt Nếu như thực từ có giá trị biểu đạt ý nghĩa từ vựng thì hư từ lại có giá trị biểu thị các quan hệ ngữ pháp. Số lượng hư từ rất nhỏ so với thực từ trong bất kì ngôn ngữ nào, nhưng tần suất hoạt động của chúng so với thực từ lại lớn hơn rất nhiều.
Hư từ là một khái niệm vừa thuộc phạm trù từ vựng vừa thuộc phạm trù ngữ pháp. Đối với các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt thì vai trò của hư từ là thể hiện các quan hệ ngữ pháp. Nếu như không có thực từ thì không thể có sự liên hệ với sự vật, hiện tượng trong thực tế, nhưng không có hư từ thì không thể suy nghĩ, thông báo được đầy đủ, rõ ràng. Không thể nói ra toàn những câu mà trong đó chỉ có thực từ.
Khái niệm hư từ - Tác giả Hoàng Phê giải thích: “Hư từ là những từ không có khả năng độc lập làm thành phần câu, được dùng để biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ”. [19, trg 472] - Nguyễn Anh Quế cho rằng: “Hư từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, chỉ có tác dụng nối các từ, các mệnh đề, các câu lại với nhau theo một quan hệ nào đó, chúng cũng không thể làm thành phần câu”. [21, trg 14] - Diệp Quang Ban quan niệm: “Hư từ là từ không có khả năng độc lập làm thành phần câu và phục vụ cho việc biểu hiện các mối quan hệ ngữ nghĩa, cú pháp giữa các thực từ”. [9, trg 53] 9 - Hoàng Trọng Phiến cũng quan niệm: “Hư từ là một lớp từ làm phương tiện biểu hiện các quan hệ ngữ pháp – ngữ nghĩa khác nhau giữa các thực từ” [20,trg 7] - Nguyễn Kim Thản cho rằng: “Hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng hẳn hoi mà chỉ có tác dụng làm công cụ để chỉ các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau”.
[26, trg 149] - “Ngữ pháp tiếng Việt” của UBKHXH: Hư từ là những từ có nghĩa hư, loại nghĩa mà không thể nhờ nó làm sự liên hệ với sự vật, hiện tượng. Hư từ được dùng để biểu thị một số những quan hệ cú pháp nhất định. [31, trg 68] Như vậy có thể thấy rằng, hư từ là một phạm trù từ loại đối lập với thực từ. Một số tiêu chí được các nhà nghiên cứu nhắc đến khi phân biệt hư từ với thực từ (theo [4, trg 470]) gồm: - Ý nghĩa khái quát - Khả năng kết hợp - Chức vụ cú pháp 1.
Đặc điểm của hư từ và phân loại hư từ Tiếng Việt Mỗi nhà ngôn ngữ học lại có những quan điểm khác nhau về đặc điểm của hư từ. Theo Hoàng Trọng Phiến [20, trg 8-11], hư từ có những đặc điểm: + Hư từ mang nghĩa quan hệ. Nghĩa của hư từ gắn với cách thức tư duy, hành vi tư duy. Lựa chọn hư từ nào để cấu tạo câu nói mang thông tin là xuất phát từ nhu cầu diễn đạt của tư duy.
+ Hư từ tham gia kiến tạo lập luận. 10 + Hư từ không làm trung tâm của cụm từ, của ngữ đoạn và không độc lập làm thành phần câu cũng như không độc lập tạo ra câu. Hư từ và các kết cấu hư từ đứng ngoài nòng cốt câu và có liên đới đến toàn câu nhằm diễn đạt ý nghĩa ngữ dụng nào đó tùy theo chiến lược của người sử dụng chúng. + Hư từ tự nó không có khả năng biểu hiện sắc thái nghĩa.
Nó có nghĩa tình thái khi tham gia vào một kết cấu cú pháp nào đó, trong một văn cảnh nào đó. + Hư từ không có khả năng láy để tạo dạng thức ngữ pháp. Cũng bàn về hư từ, Đinh Văn Đức cho rằng: “Khác với thực từ, bản chất ý nghĩa của hư từ thiên về tính chất ngữ pháp. Hư từ không trực tiếp biểu niệm, nó là phương tiện dùng để phân suất các hình thức của khái niệm và biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy” [9, trg 53].
Tác giả đã đưa ra ba tiêu chí để phân chia từ loại: - Tiêu chí ý nghĩa - Tiêu chí khả năng kết hợp - Tiêu chí chức năng cú pháp Từ các tiêu chí này, tác giả đã đưa ra bảng từ loại sau: Từ Thực từ Hư từ Tình thái từ Từ phụ Từ nối Tiểu từ Trợ từ Hình 1.1: Quan điểm của Đinh Văn Đức về phân loại từ 11 Bảng phân chia của Đinh Văn Đức đã để hư từ và tình thái từ ngang hàng với nhau. Tuy nhiên, theo chúng tôi thì tình thái từ cũng vốn là những từ không mang ý nghĩa từ vựng nên có thể xếp chúng vào một tiểu loại của hư từ. Lê Biên thì đưa ra nhận định:“ Chiếm số lượng từ không lớn, khác với thực từ, hư từ không có ý nghĩa định danh; ý nghĩa của các hư từ có tính chất ngữ pháp và là phương tiện diễn đạt quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của người Việt” [5, trg 23]. Tác giả đưa ra hai tiêu chí để phân chia từ loại: - Dựa vào ý nghĩa khái quát của các lớp từ (thực chất nói đến ý nghĩa khái quát của các từ cũng là nói đến một loại ý nghĩa ngữ pháp) - Dựa vào đặc điểm hoạt động ngữ pháp của các lớp từ (trong tiếng Việt những đặc tính cú pháp học có tác dụng quyết định chi phối những đặc trưng cú pháp của các lớp từ loại).
Tác giả Lê Biên cũng có những quan điểm riêng của mình trong việc phân loại hư từ: Hư từ Tình thái Quan hệ Phụ từ từ từ Trợ từ Thán từ Hình 1.2: Quan điểm của Lê Biên về phân loại hư từ 12 Cách phân loại của Lê Biên cũng khá rõ ràng và dễ hiểu. Tuy nhiên, theo chúng tôi, nên tách tình thái từ và trợ từ ra hai nhóm ngang bằng nhau chứ không nên để trợ từ và thán từ là những tiểu loại của tình thái từ. Còn Nguyễn Anh Quế lại đưa ra cách chia từ loại bao gồm hai bước: - Bước 1: Dựa vào tổ chức đoản ngữ, ta có thể phân từ làm 2 loại: + Loại có khả năng làm thành tố đoản ngữ + Loại không có khả năng làm thành tố đoản ngữ - Bước 2: Dựa vào chức năng cú pháp Từ cơ sở này, Nguyễn Anh Quế đã đưa ra quan điểm của mình về cách phân chia hư từ gồm 3 nhóm: Bảng 1.1: Quan điểm của Nguyễn Anh Quế về phân chia từ loại hư từ Hư từ từ pháp Hư từ cú pháp Nhóm hư từ nằm trong đoản Nhóm hư từ nằm ngoài ngữ, nhưng không làm thành Nhóm hư từ làm đoản ngữ (hư từ phụ tố phụ: giới từ, liên từ và thành tố phụ trong trợ): trợ từ, phụ từ “các hư từ đặc biệt” (như: là, đoản ngữ: phó từ (gồm: ngữ khí từ và cảm thì, kẻo huống, phương chi, thán từ) vả). Theo chúng tôi, bảng phân loại hư từ của Nguyễn Anh Quế rất kỹ lưỡng.
Tác giả còn đi sâu phân tích, đưa ra những văn cảnh cụ thể để nêu bật ý nghĩa của từng từ, từng nhóm từ. Tác giả Đỗ Phương Lâm trong luận án của mình đã nêu được một cách rất cụ thể và rõ ràng về tiêu chí và cách phân loại từ. Tác giả đã tiến hành phân loại từ theo 3 bước ứng với 3 tiêu chí. Đó là các bước sau: - Bước 1: Dựa vào ý nghĩa từ vựng để phân ranh giới thực từ/ hư từ.
13 - Bước 2: Dựa vào tổ chức đoản ngữ để phân biệt được những từ nằm trong với những từ nằm ngoài kết cấu đoản ngữ. Đối với những từ nằm trong kết cấu đoản ngữ, lại tiếp tục phân biệt: khả năng làm trung tâm đoản ngữ với khả năng làm thành phần phụ đoản ngữ. - Bước 3: Kiểm tra chức vụ cú pháp. Những từ có khả năng đảm nhiệm một chức vụ cú pháp nhất định (chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ) là thực từ.
Những từ không đảm nhiệm chức vụ cú pháp nào, xảy ra hai trường hợp: + Những từ làm nhiệm vụ kết nối các câu hoặc các bộ phận thuộc câu + Những từ gắn với một bộ phận câu hoặc gắn với cả câu để gia tăng một sắc thái ngữ nghĩa nào đó. Từ hệ tiêu chí rất rõ ràng, Đỗ Phương Lâm đã đưa ra bảng phân loại từ sau: Bước 1 HƯ TỪ THỰC TỪ (dựa vào ý nghĩa khái quát) Bước 2 PHÓ TỪ (dựa vào cấu trúc đoản ngữ) Bước 3 TRỢ TỪ QUAN HỆ TỪ (dựa vào chức vụ cú pháp) Hình 1.3: Quan điểm của Đỗ Phương Lâm về phân loại từ 1. Ý nghĩa và chức năng của hư từ Giống như thực từ, hư từ là mảng từ không thể thiếu trong vốn từ tiếng Việt. Hư từ cũng là một đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, là vật liệu tạo nên các đơn vị lớn hơn như đoản ngữ, cú… Hư từ không có ý nghĩa từ vựng, nhưng trong 14 tiếng Việt một số lượng không nhỏ các hư từ là chuyển từ thực mà ra, nhất là các phó từ, giới từ, liên từ… Như vậy, nếu nói đến ý nghĩa của thực từ thì không lí nào ta lại không nhắc đến ý nghĩa cũng như chức năng của hư từ a.
Ý nghĩa của hư từ: Như đã nói ở trên, tuyệt đại các bộ phận hư từ trong Tiếng Việt nói riêng và các ngôn ngữ phân tích tính nói chung đều được bắt nguồn từ thực từ. Vì vậy phải khẳng định hư từ cũng có ý nghĩa từ vựng tuy nhiên nó mờ nhạt hơn thực từ. Hư từ không mang ý nghĩa tất yếu, ý nghĩa tự thân, nó không thể hiện trọn vẹn một ý nghĩa chân thực nào mà chỉ thể hiện ý nghĩa nghĩa ngữ pháp, như ý nghĩa về thời, thể… hoặc quan hệ liên kết. Để xác định ý nghĩa của hư từ cần thông qua chức năng cú pháp do chúng biểu thị trong các tổ hợp.
Chức năng của hư từ: Vì ý nghĩa của hư từ chủ yếu được xác định thông qua các yếu tố trong kết cấu, trong tổ hợp, do đó chức năng ngữ nghĩa của hư từ cũng chủ yếu là biểu đạt mối quan hệ giữa các yếu tố trong kết cấu, quan hệ giữa các kết cấu với nhau và đôi khi là quan hệ giữa các kết cấu với hiện thực bên ngoài. Ngoài chức năng ngữ nghĩa, hư từ còn có chức năng làm thành tố trong các cấu trúc của đoản ngữ, dùng để kết nối các thành phần câu, các đoản ngữ với nhau.