phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn có kết cấu gồm ba chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết có liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Đặc điểm ngữ pháp của phó từ chỉ mức độ trong tiếng Việt Chƣơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa và đặc điểm sử dụng của phó từ chỉ mức độ trong tiếng Việt 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Phó từ trong tiếng Việt 1. Một số quan điểm về phó từ trong tiếng Việt Trong từ vựng của bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có sự đối lập giữa thực từ - hƣ từ.
Thực từ có giá trị biểu đạt ý nghĩa từ vựng; hƣ từ có giá trị thể hiện các quan hệ ngữ pháp. Hƣ từ bao gồm 3 nhóm chủ yếu: phó từ, quan hệ từ, trợ từ. Trong đó, phó từ, đúng nhƣ tên gọi của nó, là những từ có vai trò “phụ” cho những từ trung tâm trong kết cấu đoản ngữ, bổ sung ý nghĩa hạn định về số lƣợng, thời gian, mức độ, tần suất, phƣơng thức, v. cho từ trung tâm.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại nhiều quan điểm về việc phân định phó từ tiếng Việt. Trong các sách ngữ pháp tiếng Việt và các sách dạy học tiếng Việt hiện nay, ranh giới giữa phó từ với các từ loại nhƣ: phụ từ, định từ, v. vẫn chƣa thực sự rõ ràng. Dƣới đây, chúng tôi điểm lại một số quan điểm phổ biến về phó từ tiếng Việt.
Nguyễn Tài Cẩn (1975) dựa vào đoản ngữ để phân định từ loại. Ông xác định: “những từ loại chỉ có khả năng làm thành tố phụ đoản ngữ” là phó từ [4, tr. Sách Ngữ pháp tiếng Việt của Uỷ ban Khoa học xã hội (1983) xếp chung một nhóm hƣ từ có tên gọi là phụ từ. Trong đó, phụ từ bao gồm: những từ làm thành phần phụ cho từ trung tâm; và những từ làm thành phần phụ cho câu, có chức năng tình thái nhƣ: à, ư, nhỉ, nhé, đi, vẫn, chính, đích, v.
Nhƣ vậy, khái niệm phụ từ trong quan điểm này rộng hơn khái niệm phó từ. Tác giả Đinh Văn Đức (1986) trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại) dùng thuật ngữ “từ phụ” để chỉ những từ làm thành tố phụ trong đoản ngữ. Nhƣ vậy, từ phụ (tác giả còn gọi từ phụ là “hư từ từ pháp” trong mối quan hệ 8 đối lập với “hư từ cú pháp”) tƣơng đƣơng với khái niệm phó từ mà chúng ta đang đề cập ở đây. Trong luận án Hư từ trong tiếng Việt hiện đại, Nguyễn Anh Quế (1988) đề nghị một cách phân định hƣ từ gồm hai bƣớc: “bƣớc 1, dựa vào tổ chức đoản ngữ và bƣớc 2, dựa vào chức năng cú pháp.51] Ông có cùng quan điểm với Đinh Văn Đức khi gọi những hư từ từ pháp là những từ làm thành tố phụ trong đoản ngữ.
Nguyễn Anh Quế gọi nhóm từ này là phó từ. Tác giả Hoàng Văn Thung (1991, 1998) trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt coi phó từ là một tiểu loại của Phụ từ. Phụ từ là những từ làm thành phần phụ cho từ trung tâm trong kết cấu đoản ngữ. Trong đó, những từ phụ cho danh từ gọi là định từ; những từ phụ cho động từ, tính từ gọi là phó từ.
Nhƣ vậy, quan điểm của Hoàng Văn Thung giới hạn phạm vi phó từ hẹp hơn so với quan điểm chung. Lê Biên (1999) không dùng thuật ngữ phó từ. Ông gọi chung những từ phụ cho thể từ và vị từ là Phụ từ. Theo Lê Biên, Phụ từ cũng tƣơng đƣơng với Phó từ trong đa số các quan điểm phân định hƣ từ tiếng Việt.
176] Nguyễn Hồng Cổn (2003) căn cứ vào chức vụ cú pháp của từ đã phân chia từ thành hai nhóm đối tố và vị tố. Căn cứ vào chức năng làm thành phần phụ của từ, ông chia thành: Những từ làm thành tố phụ của đối tố, gồm: lượng từ, số từ, định từ, chỉ từ. Những từ làm thành tố phụ của vị tố là phó từ, gồm: tiền phó từ và hậu phó từ. Diệp Quang Ban (2004) chủ yếu kế thừa kết quả phân loại các lớp từ truyền thống.
Tuy nhiên, ông quan niệm: phó từ là hƣ từ thƣờng đƣợc dùng kèm với thực từ (động từ, tính từ). Chúng biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa quá trình và đặc trƣng với thực tại, đồng thời cũng biểu hiện ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình và đặc trƣng của hiện thực. Còn những từ làm thành phần phụ cho danh từ, đƣợc ông gọi là định từ (bao gồm: mạo từ và chỉ định từ). 9 Đào Thanh Lan (2007) cho rằng Phó từ nằm trong phụ từ.
Phó từ chỉ là những từ làm thành phần phụ, bổ sung ý nghĩa cho vị từ (động từ, tính từ). Còn những từ làm thành phần phụ, bổ sung ý nghĩa cho danh từ là định từ. Tựu chung, trên đây là một số quan điểm phổ biến về phó từ tiếng Việt. Chúng ta nhận thấy điểm chung giữa các quan điểm: phó từ đƣợc xác định là những từ làm thành tố phụ trong kết cấu đoản ngữ.
Điểm khác biệt nằm ở quan niệm phạm vi của phó từ. Các quan điểm cho rằng tất cả những từ làm thành tố phụ trong đoản ngữ đều gọi là phó từ gồm có: Nguyễn Tài Cẩn, Uỷ ban Khoa học xã hội, Nguyễn Anh Quế, Đinh Văn Đức, Lê Biên, Hoàng Trọng Phiến, Đỗ Phƣơng Lâm (2014), v. Quan điểm chỉ coi những từ làm thành phần phụ cho vị từ (động từ, tính từ) mới là phó từ là quan điểm của các nhà nghiên cứu: Nguyễn Kim Thản (1963), Hoàng Văn Thung, Đào Thanh Lan, Diệp Quang Ban, Nguyễn Hồng Cổn (2003). Khái niệm phó từ Kế thừa những kết quả nghiên cứu đã đƣợc công bố, trong luận văn này, chúng tôi quan niệm phó từ có những đặc điểm sau: + Về mặt ngữ pháp - Phó từ là từ luôn làm thành phần phụ cho từ trung tâm trong kết cấu đoản ngữ; - Phó từ luôn đi kèm với từ trung tâm, đứng trƣớc hoặc sau liền kề với từ trung tâm; phó từ kết hợp trực tiếp với từ trung tâm.
Vì một trong số nhóm phó từ nhất định thƣờng chỉ có khả năng kết hợp phổ biến với một số nhóm thực từ nhất định, nên nói chung có thể dùng phó từ làm từ chứng để phân loại động từ và tính từ. + Về mặt ngữ nghĩa - Phó từ đi kèm với từ trung tâm để bổ sung hoặc hạn định ý nghĩa cho từ trung tâm ấy. Các ý nghĩa bổ sung hoặc hạn định ấy giúp phân loại các nhóm phó từ. Chẳng hạn: 10 - Phó từ đi kèm với danh từ/ đại từ: thƣờng bổ sung ý nghĩa về số lƣợng, tính chất đơn lẻ hay phức hợp, gọi là phó từ số lượng, nhƣ các phó từ thƣờng gặp: những, các, mọi, mỗi, từng, v.; - Phó từ biểu thị sự phủ định: không, chưa, chẳng; - Phó từ biểu thị thời gian của hành động/ trạng thái: đã, sẽ, đang, vừa, vừa mới, mới, sắp, chuẩn bị, v.; - Phó từ biểu thị tốc độ, sự bất ngờ: đột ngột, đột nhiên, hốt nhiên, lập tức, tức khắc, tức thời, bất đồ, bất giác, v.
- Phó từ biểu thị tần suất của hoạt động: tạm thời, lâm thời, nhất thời, hy hữu, thường xuyên, thường, thường thường, thường nhật, hằng, tái, liên tục.; - Phó từ biểu thị mức độ: rất, quá, lắm, tương đối, thậm, chí, cực, cực kì, cực lực, vạn phần, vạn bội, bất quá, bội phần, tối, vô cùng.; - Phó từ biểu thị phạm vi: chuyên, chuyên môn, chuyên trị, duy, tổng, toàn, toàn bộ, chỉ, tận, thuần, duy, đại để, đại thể, đại khái, tổng cộng, đa phần, bất cứ, bất kì, bất luận,v.; - Phó từ biểu thị hiệp đồng: đồng thời, nhất tề, nhất luật, nhất nhất, song song,v. Phó từ mức độ là những từ kết hợp với các tính từ, động từ để diễn tả mức độ của tính chất, trạng thái và hành động. Phân loại phó từ Phân loại theo khả năng làm thành phần phụ đi kèm với từ trung tâm. Trong số các hƣ từ thì phó từ đƣợc chuyên dùng làm thành tố phụ cho một cấu trúc đoản ngữ nhƣ sau: Thành phần phụ (Phó từ) + Từ trung tâm (Danh từ/ Động từ/ Tính từ) + Theo chức năng ngữ pháp, phó từ đƣợc chia thành: Phó danh từ: là những từ đi kèm trƣớc danh từ trung tâm để bổ sung/hạn định ý nghĩa về số lƣợng, tính chất riêng lẻ hay tập hợp, v.
nhƣ các phó danh từ: những, các, mọi, mỗi, từng, v. Ví dụ: 11 Những sinh viên, các đồng chí, mỗi người trong chúng ta,v. Phó thuật từ: là những từ đi kèm trƣớc động từ, hoặc tính từ trung tâm để bổ sung / hạn định ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa phủ định, ý nghĩa phạm vi, ý nghĩa mức độ, v. Ví dụ: Phó từ phụ cho động từ: Biểu thị ý nghĩa thời gian: đã ăn cơm, sắp lên máy bay, đang học bài… Biểu thị ý nghĩa tốc độ: đột ngột chuyển hướng, bất ngờ dừng lại, lập tức phản xạ, v.
Ví dụ: Phó từ phụ cho tính từ: (Danh từ -> Danh ngữ) (Động từ -> Động ngữ) (Tính từ -> Tính ngữ) Theo cấu trúc trên thì có thể phân loại phó từ làm 3 loại đó là phó từ làm thành tố phụ cho danh từ, phó từ làm thành tố phụ cho động từ và phó từ làm thành tố phụ cho tính từ. Các phó từ phụ cho danh từ là các phó từ mang ý nghĩa chỉ số nhƣ : những, các, mọi, mấy, từng, .Những từ này có khả năng kêt hợp với danh từ và là thành tố phụ của danh từ làm trung tâm ngữ. Ví dụ: Những con đường trải đầy hoa phượng. Mọi người ai về nhà nấy.
Ở tiếng Việt cần thấy những nét đối lập khi sử dụng các phó từ mang ý nghĩa về số khi phụ cho danh từ làm danh ngữ. Nếu là số ít: Bút, một cái bút. Nếu là số nhiều: Những cái bút vẽ ra những hoa văn nghệ thuật. Bên cạnh sự đối lập, cần phân biệt phạm vi sử dụng của ngay những phó từ trong một nhóm.
Chỉ có thể nói: “Thƣa các đồng chí” mà không thể nói: “Thƣa những đồng chí”. Khi dùng phó từ chỉ ý nghĩa số lƣợng các thì các không nhằm đối chiếu với sự vật khác nên đƣợc cho là phó từ xác định. Khi đặt sự vật trong thế đối 12 lập, nhằm đối chiếu sự vật này với sự vật khác, tách một sự vật ra khỏi một tập hợp sự vật lớn hơn thì dùng những , một. Ngoài ra cần phân biệt những là phó từ chỉ số lƣợng nhiều với trƣờng hợp đồng âm khác.
Ví dụ: Những con người của thời kỳ đổi mới đất nước. -> Những ở đây là phó từ.