Luận văn thạc sĩ: Cơ chế ngữ nghĩa tâm lý trong tổ hợp song tiết tiếng Việt

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ngôn ngữ học tìm hiểu cơ chế ngữ nghĩa tâm lý trong tổ hợp song tiết chính phụ tiếng việt, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2007

78
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Bài viết này nghiên cứu cơ chế ngữ nghĩa tâm lý trong tổ hợp song tiết tiếng Việt, một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cách thức mà ngôn ngữ phản ánh tâm lý và văn hóa của người sử dụng mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu ngôn ngữ học sau này. Theo Lê Thị Phương Mai, việc tìm hiểu cơ chế ngữ nghĩa tâm lý trong định danh hiện thực là cần thiết để hiểu rõ hơn về cách mà người Việt nhìn nhận và phản ánh thực tại qua ngôn ngữ.

1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các hợp định danh trong tiếng Việt, đặc biệt là các tổ hợp song tiết chính - phụ. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các kiểu định danh, kích thước của ngữ định danh, và các cách định danh của ngữ định danh song chính phụ. Nghiên cứu này nhằm làm rõ cơ chế ngữ nghĩa tâm lý trong việc hình thành và sử dụng các tổ hợp này, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ phản ánh tâm lý và văn hóa của người bản ngữ.

II. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để phân tích cơ chế ngữ nghĩa tâm lý trong tổ hợp song tiết. Phương pháp chính bao gồm phân tích ngữ nghĩa, so sánh và mô hình hóa các hợp định danh. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng cơ chế ngữ nghĩa tâm lý có vai trò quan trọng trong việc hình thành nghĩa của các tổ hợp ngôn ngữ. Việc phân tích các kiểu định danh và kích thước của ngữ định danh giúp làm rõ hơn về cách mà ngôn ngữ phản ánh tâm lý của người sử dụng.

2.1. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong luận văn bao gồm phân tích ngữ nghĩa và so sánh các mô hình ngữ nghĩa khác nhau. Nghiên cứu sử dụng các tài liệu từ Từ điển tiếng Việt và các công trình nghiên cứu trước đó để làm cơ sở cho việc phân tích. Việc áp dụng các phương pháp này giúp làm rõ hơn về cơ chế ngữ nghĩa tâm lý trong tổ hợp song tiết, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về cách mà ngôn ngữ phản ánh thực tại.

III. Kết luận

Luận văn đã chỉ ra rằng cơ chế ngữ nghĩa tâm lý trong tổ hợp song tiết chính - phụ tiếng Việt không chỉ phản ánh cách nhìn nhận của người bản ngữ về thực tại mà còn thể hiện những đặc điểm văn hóa và tâm lý của họ. Nghiên cứu này có giá trị thực tiễn cao, không chỉ trong lĩnh vực ngôn ngữ học mà còn trong việc hiểu biết về văn hóa và tâm lý của người Việt. Những kết quả từ nghiên cứu này có thể được áp dụng trong việc giảng dạy ngôn ngữ, nghiên cứu văn hóa và phát triển các tài liệu học tập.

3.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này góp phần làm phong phú thêm kho tàng tri thức về ngôn ngữ học, đặc biệt là trong lĩnh vực cơ chế ngữ nghĩa tâm lý. Những phát hiện từ luận văn không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có thể được áp dụng trong thực tiễn, giúp nâng cao khả năng giao tiếp và hiểu biết văn hóa cho người học ngôn ngữ. Việc hiểu rõ cơ chế ngữ nghĩa tâm lý cũng giúp các nhà nghiên cứu và giáo viên có cái nhìn sâu sắc hơn về cách mà ngôn ngữ và tâm lý tương tác với nhau.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: MOT SO VAN DE HUU Q 1. Cơ chế ngữ nghĩa -tâm lý trong sự định danh "Định danh chính là sự cố định (hay gắn) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm biểu niệm (signifikat) phản ánh các đặc trưng nhất định của một biêu vật (denotat) - các thuộc tính phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và qua trình thuộc phạm vi vật chat va tỉnh thin, nhờ. đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ" (G.Kan-san- ski- dẫn theo [34, tr. Nói giản di hơn, "định danh là gọi tên sự vật, hiện tượng" [22, tr.325] Đây là chức năng cơ bản của từ.

Tuy nhiên vốn từ trong mỗi ngôn ngữ là hữu hạn. Trong khi thể giới khái niệm cần được gọi tên lại mở rộng một cách không ngừng trong qua trình phát triển của đời sống, của nhận thức và của chính ngôn ngữ nữa. Vì vậy để làm tròn chức năng. định danh, từ đã có những qua trình phát triển ý nghĩa cơ bản như mở rộng và thu hẹp ý nghĩa, ẩn dụ và hoán dụ.

Và một nhu cầu tắt yếu nữa là phải tạo thêm những đơn vị từ vựng trên cơ sở. Đó là những tổ hợp định danh, có giá trị tương đương với từ. Theo Nguyễn Thiện Giáp, "cụm từ, thậm chí câu cũng có chức năng định danh" [lo, tr. Chẳng hạn đẻ gọi trang phục nói chung của con người chúng ta có tổ hợp áo quan, dé nói về người thường dễ đạt được kết qua tốt, dễ thành công trong công việc làm cụ thê ta có tô hợp mát tay,.

nói trên đều được hình thành trên cơ sở ghép các từ đã có. Đây là các tổ hợp định danh hay còn goi là các ngữ định danh. Ngữ định danh là những cụm từ biểu thị các sự vật, hiện tượng hay khái niệm nào đó của thực tế. Nó bao gồm những cụm từ thường được gọi là từ ghép và những cụm từ thường được goi là ngữ có định.

Các ngôn ngữ khác nhau về loại hình sẽ có cơ chế định danh khác nhau, tức là có cách gọi tên sự vật theo xu hướng khác nhau. Nếu các ngôn ngữ biến hình và chắp dinh vốn thiên vẻ cách đặt tên tổng hợp tính thì các ngôn ngữ đơn lập trong đó có tiếng Việt, cách gọi tên có xu hướng phân tích tính mạnh mẽ. Cơ chế định danh hiện thực bằng cách ghép các từ lại với nhau là có khả năng phản ánh nhiều nhất và sinh động nhất đặc điềm tâm lý của người bản ngữ thuộc những dân tộc khác nhau trong qua trình chia cắt hiện thực để gọi tên nó một cơ chế (cơ chế cấu tạo nên những từ ghép _ người viết) bên ngoài của nó là cái thao tác ghép một từ này với một từ khác theo một trình tự nhất định, lại có mặt bên trong của nó là tác dụng của những biểu 12 tượng với tính năng động ngữ nghĩa của chúng. Cơ chế đó, thực chất là một cơ chế tâm lý" [40, tr.

"Như vậy nói một cách khái quát, đẳng sau các cách định danh từ vựng còn có cả bóng dáng của tâm lý dân tộc và phần nào thể hiện được nét riêng của một ngôn ngữ" [28.tr36] Ví dụ: Để chỉ "cái bộ phận của cây bút tiếp xúc với mặt giấy khi viết" thì tiếng Tày Nùng dùng từ pác bút (nghĩa đen từng thành tố là mồm búu), tiếng Mèo dùng bleimễ ( nghĩa đen lưỡi mực), tiếng Gia-rai dùng gaicih (nghĩa đen : gậy bút), tiếng Hán dùng bijiãn (âm Hán Việt là bút tiêm, tức mũi nhọn của bút), còn tiếng Việt thì dùng ngòi bút hoặc ngòi viết (với hình tượng mực chảy ra như cái ngòi dẫn nước). Theo Lý Toàn Thắng, cùng một sự vật, tiếng Việt gọi chân răng nhưng ở tiếng Nga là một cách nhìn thế giới khác: korcri zuba (rễ của răng) [32, tr. Việc mượn những hình tượng đa dạng như thế đễ chỉ cùng một sự vật rõ rằng có phản ánh đặc điểm tâm lý của người bản ngữ thuộc những dân tộc khác nhau trong qua trình nhận thức và định danh hiện thực. Đây chính là cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý trong sự định danh.

Các kiểu định danh 1. Định danh trực tiếp Mỗi sự vật, hiện tượng hay khái niệm có nhiều thuộc tính khác nhau. Khi đặt tên cho những sự vật, hiện tượng hay khái niệm đó người ta thường dựa vào một hoặc một số thuộc tính nào đó của chúng, làm căn cứ để hiểu toàn bộ sự vật, hiện tượng, khái niệm. Đỗ là cách định danh trực tiếp.

Cách định danh này tạo ra những ngữ định danh trực tiếp. Có người gọi đó là ngữ định danh hợp kết [li, tr. Ngữ định danh trực tiếp trực tiếp phản ánh những thuộc tính của đối tượng trong cấu trúc ý nghĩa của mình. Vì vậy ý nghĩa của các ngữ định danh trực tiếp có thê phân tích thành những yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của từng bộ phận tạo.

Vi du: ~ quần áo có nghĩa là "dé mac, nhur quan, áo". Ý nghĩa của quần áo mặc dù khái quát hơn ý nghĩa của quần + ý nghĩa của áo nhưng cũng xuất phát từ ý nghĩa của 2 đơn vị quần, áo. - đèn chùm có nghĩa là đèn gồm nhiều bóng nhỏ, được kết nói thành chùm, dùng để chiếu sáng và trang trí. Ý nghĩa này có thé phan tích thành hai yếu tố nghĩa: ý nghĩa "đồ dùng để soi 13 sáng" do từ đèn biểu thị và ý nghĩa "tập hợp nhiều vật cùng loại chụm lại quanh một điểm" do từ chùm biéu thị.

Thuộc tính trên của ngữ định danh trực tiếp còn có thể gọi là tính phân tích về nghĩa của nó 1. Định danh gián tiếp Là cách gọi tên một đối tượng nào đó bằng cách mượn tên gọi của đối tượng khác. Cách định danh này tạo ra những ngữ định danh gián tiếp, Nguyễn Thiện Giáp gọi là ngữ định danh hòa kết [li, tr. Ngữ định danh gián tiếp không trực tiếp phản ánh những thuộc tính của đối tượng trong cấu trúc ý nghĩa của mình.

Tức là trong cách định danh gián tiếp, đối tượng cần được gọi tên đã nhận tên gọi của một đối tượng khác. Do đó, những nét nghĩa dùng làm cơ sở của tên gọi không phản ánh những thuộc tính của đối tượng mới này. Ý nghĩa của những ngữ định danh gián tiếp không thể phân tích thành các yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của các bộ phận tạo thành. Nói cách khác, ý nghĩa của các bộ phận tạo thành ngữ định danh gián tiếp mắt tính độc lập, hòa lẫn vào nhau để cùng biểu thị một khái niệm Vi du: - càng cua với nghĩa "viêm tấy, sưng to ở kẽ ngón tay" là một ngữ định danh gián tiếp bởi vì không thể phân tích ý nghĩa của càng cua thành ý nghĩa của càng + ý nghĩa của cua.

- tai hồng với nghĩa "đai ốc có hai cánh để vặn" là một ngữ định danh gián tiếp bởi vì không thể phân tích ý nghĩa của tai hồng thành ý nghĩa của tai + ý nghĩa của hồng. - mực thước với nghĩa " khuôn phép hay theo đúng khuôn phép; mẫu mực" là một ngữ định danh gián tiếp bởi vì không thể phân tích ý nghĩa của mực thước thành ý nghĩa của mực + ý nghĩa của thước. “Thuộc tính này của ngữ định danh gián tiếp được gọi là tính tổng hợp về nghĩa, hay tính nhất thể về nghĩa. Cơ chế ngữ nghĩa- tâm lý của ngữ định danh gián tiếp thường dựa trên sự tương đồng, giữa đối tượng cần được gọi tên và đối tượng mà nó nhận (hay mượn) tên gọi hay dựa trên lối nói biểu trưng: 14 ~ "viêm tây, sưng to ở kẽ ngón tay" được gọi là càng cua vì tay khi bị bệnh này thi sung lên trông như càng của con cua.

- "dai ốc có hai cánh để vặn" được gọi là tai hồng vì nó có hình dạng giống với tai của trái hồng, - " khuôn phép hay theo đúng khuôn phép; mẫu mực" được gọi là mực thước là gọi theo lối biểu trưng. ~ "có tỉnh thần không lùi bước trước nguy hiểm" được gọi là gan dạ là gọi theo lối biểu trưng Như vậy có thể nói ấn dụ và biểu trưng là hai cách thức chính để hình thành ngữ định danh gián tiếp. ‘Thuc tế cho thấy trong tiếng Việt, phổ biến hơn là ngữ định danh trực tiếp. Có nhiều cách thức để hình thành ngữ định danh trực tiếp (chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ trong chương li).

Vì vậy, đặc điểm tâm lý của người bản ngữ được thể hiện nhiều hơn và rõ nét hơn trong các ngữ định danh trực tiếp. Do vậy, trong luận văn này chúng tôi chỉ giới hạn phần nghiên cứu của mình trong việc tìm hiểu cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý của một bộ phận ngữ định danh trực tiếp. Kích thước của ngữ định danh trực tiếp Về kích thước, những tổ hợp định danh này có thể gồm hai hay hơn hai từ ghép lại với nhau. Nhưng trong tiếng Việt, những tổ hợp định danh chủ yếu là tổ hợp song tiết.

về cơ chế hình thành, những tổ hợp định danh có hơn hai âm tiết cũng có cùng các cơ chế với những tổ hợp định danh song tiết. Có khác là, ở một tổ hợp định danh song tiết cụ thé chỉ có một cơ chế định danh thì ở một tổ hợp định danh có hơn hai âm tiết lại là sự công lại của hai hoặc hơn hai cơ chế định danh mà thôi. Vi du: ~ bánh đa: định danh trực tiếp, thông qua so sánh với một sự vat khác (bánh giống lá da), - bánh phở : định danh trực tiếp, thông qua sự liên tưởng tới một yếu tố gần gũi là công dụng của sự vật (bánh để làm phở), 15 Thì "bánh đa nem" lại định danh trực tiếp, vừa thông qua so sánh với một sự vật khác (bánh giống lá đa) lại vừa thông qua sự liên tưởng tới một yếu tố gần gũi là công dụng của sự. Vi vậy trong luận văn này chúng tôi sẽ khảo sát những tổ hợp định danh song tiết 1.

Phân loại ngữ định danh trực tiếp song tiết Về tính chất, những thành tổ cấu tạo của tổ hợp song tiết định danh đại bộ phận là những thành tố thuộc về các từ loại: danh từ, động từ và tính từ. Vì, có thể nói về chức năng định danh của những đơn vị như: áo, quan, ăn, uống, xấu, tốt,. Nhưng không thể nói rằng những đơn vị như: và, tuy, dù, với, đã, sẽ, đang; à, ôi, ối, ái; tôi, nó, day, no, kia,. có chức năng định danh, bởi những đơn vị này không gọi tên sự vật hiện tượng nào cả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu cơ chế ngữ nghĩa tâm lý trong tổ hợp song tiết tiếng Việt" khám phá các khía cạnh ngữ nghĩa và tâm lý học liên quan đến cách tổ hợp âm tiết trong tiếng Việt. Tác giả phân tích cách mà ngữ nghĩa tâm lý ảnh hưởng đến việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ, từ đó giúp người đọc nhận thức rõ hơn về sự phong phú và đa dạng của ngôn ngữ Việt Nam. Bài viết không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn mở ra những ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh ngôn ngữ học khác, hãy tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cách dùng của trợ từ ngữ khí nghi vấn 吧 吗 呢 trong tiếng hán hiện đại so sánh với tiếng việt", nơi bạn có thể thấy sự tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng ngữ khí giữa tiếng Hán và tiếng Việt. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hành vi ngôn ngữ chê trong tiếng hán hiện đại dưới góc độ thể diện có đối chiếu với tiếng việt" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hành vi ngôn ngữ và cách mà nó được thể hiện trong hai ngôn ngữ này. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ nghiên cứu về ngôn ngữ xét hỏi của các cơ quan hành pháp trong tiếng hán hiện đại đối chiếu với tiếng việt" sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngôn ngữ trong bối cảnh pháp lý, giúp bạn mở rộng kiến thức về ngôn ngữ học trong các lĩnh vực khác nhau.