Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9229040) với đề tài “Tín ngưỡng Địa Mẫu ở Hà Nội” do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hiền thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Quang Hùng và TS. Vũ Anh Tú, bảo vệ năm 2022.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hà Nội là trung tâm hội tụ văn hóa và tín ngưỡng của cả nước, nơi đan xen nhiều hệ thống tôn giáo và tín ngưỡng truyền thống như Phật giáo, Đạo giáo, Công giáo, Đạo Cao Đài, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng, tín ngưỡng thờ cúng Tổ Tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ. Bên cạnh các tín ngưỡng dân gian bản địa, đời sống tâm linh tại Hà Nội ghi nhận sự xuất hiện của các tín ngưỡng ngoại lai, tiêu biểu là tín ngưỡng Địa Mẫu có nguồn gốc từ Trung Quốc. Căn cứ văn bản Địa Mẫu chân kinh in tại đền Ngọc Sơn (Hà Nội) năm 1923, tín ngưỡng này đã xuất hiện tại Hà Nội từ đầu thế kỷ XX, sau đó bị gián đoạn và tiếp tục phát triển trở lại từ cuối thế kỷ XX (sau năm 1986) đến nay.
Trong thực tế thực hành, tín ngưỡng Địa Mẫu rất dễ bị nhầm lẫn với Mẫu Địa (vị Thánh Mẫu trong hệ thống Tứ phủ của người Việt), dù hai hiện tượng này có sự khác biệt rõ rệt về nguồn gốc, hình tượng, kinh sách và nghi thức. Dù đang tồn tại và phát triển tại nhiều cơ sở thờ tự từ công cộng đến tư gia ở Hà Nội, trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên biệt và toàn diện về tín ngưỡng Địa Mẫu tại địa bàn này. Luận án được triển khai nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu trên, cung cấp tư liệu hệ thống hóa về một hiện tượng tín ngưỡng đang vận động trong xã hội đương đại.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục đích: Nhận diện bản chất của tín ngưỡng Địa Mẫu; làm rõ quá trình du nhập tín ngưỡng Địa Mẫu vào Hà Nội; phân tích các đặc điểm, giá trị văn hóa và sự dung hợp, chuyển đổi của tín ngưỡng này khi xuất hiện trong các không gian thờ tự hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng hợp, phân tích các nguồn tài liệu liên quan nhằm xác định khoảng trống nghiên cứu về tín ngưỡng Địa Mẫu.
- Nhận diện tín ngưỡng Địa Mẫu trên bình diện lý luận và thực tiễn.
- Khảo sát nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng Địa Mẫu tại ba điểm nghiên cứu trường hợp ở Hà Nội, chỉ ra sự dung hợp giữa tín ngưỡng này với các tôn giáo, tín ngưỡng bản địa.
- Phân tích các đặc điểm, giá trị văn hóa, xu hướng vận động và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hành tín ngưỡng Địa Mẫu tại Hà Nội trong bối cảnh đương đại.
Câu hỏi nghiên cứu
Tác giả xác định ba câu hỏi nghiên cứu trung tâm:
- Bản chất của tín ngưỡng Địa Mẫu là gì?
- Nguyên nhân và lý do nào dẫn đến việc du nhập tín ngưỡng Địa Mẫu vào các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng ở Hà Nội, đặc biệt là tại ba điểm nghiên cứu chính?
- Việc du nhập tín ngưỡng Địa Mẫu đã mang lại kết quả như thế nào trong mối quan hệ giữa tín ngưỡng Địa Mẫu và các tôn giáo, tín ngưỡng bản địa?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng Địa Mẫu ở Hà Nội, trọng tâm là sự hiện diện của tín ngưỡng này trong các không gian thờ tự gồm đình, đền, chùa và điện thờ tư gia.
- Phạm vi không gian: Tập trung vào ba địa bàn nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội:
- Đình Ứng Thiên (số 7 ngõ 151 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, TP. Hà Nội).
- Chùa Vân Hồ (số 40 Lê Đại Hành, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội).
- Điện thờ tư gia họ Nguyễn (phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội).
Đồng thời, luận án thực hiện khảo sát đối chiếu với một số điểm thờ Địa Mẫu tại các tỉnh lân cận thuộc khu vực Bắc Bộ (Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình) và so sánh với khu vực Nam Bộ.
- Phạm vi thời gian: Luận án tập trung khảo sát giai đoạn từ sau năm 1986 đến năm 2022 – mốc thời gian đánh dấu sự phục hồi sinh hoạt tín ngưỡng tại Việt Nam và sự tái xuất hiện, lan tỏa của tín ngưỡng Địa Mẫu tại Hà Nội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu theo hai nhóm chính:
Các nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng nói chung
- Học giả nước ngoài: L. Cadière nghiên cứu tâm thức người Việt gắn với các thế lực siêu nhiên; Oscar Salemink tiếp cận từ góc độ an ninh con người để phân tích bốn dạng thức bất an thúc đẩy con người tìm đến nghi lễ lên đồng (sức khỏe, kinh tế, biến cố hiện sinh và quản lý rủi ro); K. Endres và V. Chauvet nghiên cứu về công năng của gọi hồn, lên đồng và hành hương tâm linh.
- Học giả trong nước: Các ghi chép lịch sử và khảo cứu cổ như Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên), Lĩnh Nam chích quái (Vũ Quỳnh - Kiều Phú), Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú). Đầu thế kỷ XX có các khảo cứu của Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Khoan. Giai đoạn 1954–1975 có Đỗ Nam, Nghiêm Thẩm, Hồ Hữu Tường, Lê Hữu Lễ. Giai đoạn sau 1986 có các công trình của Tạ Chí Đại Trường, Vũ Ngọc Khánh, Ngô Đức Thịnh, Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Đăng Duy, Trần Đại Vinh, Nguyễn Quốc Tuấn, Thái Văn Anh, Đào Thị Vinh, Trương Hiến, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Chu Văn Tuấn, Đinh Thị Hà Giang, Nguyễn Thị Yên, Phan Văn Ba, Hà Thị Thùy Dương.
Các công trình trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến tín ngưỡng Địa Mẫu
- Tại Trung Quốc: Các nghiên cứu ghi nhận tín ngưỡng Mẹ Đất có từ nguyên thủy, phát triển mạnh vào đời Minh - Thanh; Kinh Địa Mẫu xuất phát từ đền Địa Mẫu tại huyện Thành Cố, quận Hán Trung, tỉnh Thiểm Tây và vùng Quảng Nam (Vân Nam), sau đó lan truyền sang Đài Loan, Hồng Kông và các quốc gia Đông Nam Á.
- Tại Việt Nam:
- Nhóm nghiên cứu hiện tượng tôn giáo mới: Nguyễn Hồng Dương thống kê Địa Mẫu (Phật Mẫu địa cầu) thuộc danh mục các hiện tượng tôn giáo mới từ sau năm 1980; Đỗ Quang Hưng xếp Phật Mẫu Địa Cầu vào dạng hiện tượng tôn giáo mới du nhập; Nguyễn Văn Minh ghi nhận Địa Mẫu xuất hiện tại Nam Định sau năm 1986.
- Nhóm nghiên cứu tại Nam Bộ: Trần Hạnh Minh Phương phân tích tín ngưỡng Địa Mẫu của người Hoa ở TP. Hồ Chí Minh xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX để cứu thế; Dương Hoàng Lộc khảo sát tranh Thập nhị Thánh Mẫu tại miếu Bà An Thuận (Bến Tre); Nguyễn Hữu Hiếu khảo sát Địa Mẫu trong hệ thống nữ thần Nam Bộ; Huỳnh Ngọc Thu, Nguyễn Thanh Xuân, Lê Anh Dũng nghiên cứu danh xưng Diêu Trì Kim Mẫu, Phật Mẫu trong đạo Cao Đài; Nguyễn Ngọc Thơ khảo sát Diêu Trì Kim Mẫu tại An Giang; Nguyễn Thị Bích Thúy, Mai Thị Minh Thuy, Văn Thị Thùy Trang, Trần Hồng Liên, Nguyễn Thị Hải Phượng, Huỳnh Văn Tới, Nguyễn Thị Nguyệt, Nguyễn Văn Bốn, Phan Thị Hoa Lý, Lê Thị Thanh Thảo khảo sát sự hiện diện của Địa Mẫu tại các cơ sở thờ tự tại Sóc Trăng, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Khánh Hòa, Tiền Giang.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Các công trình trước đây chỉ nhắc đến Địa Mẫu một cách tản mạn tại Nam Bộ hoặc xếp vào danh mục hiện tượng tôn giáo mới mà chưa đi sâu vào cấu trúc nghi lễ, kinh sách, nguồn gốc hình thành và sự biến đổi. Luận án của NCS. Nguyễn Thị Hiền là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên biệt về tín ngưỡng Địa Mẫu tại Hà Nội và khu vực Bắc Bộ, làm rõ quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa và sự dung hợp của tín ngưỡng ngoại lai này với các không gian thờ tự truyền thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm công cụ
Luận án vận dụng hai lý thuyết nền tảng của nhân học và văn hóa học:
- Lý thuyết Truyền bá văn hóa (Cultural Diffusion): Dựa trên quan điểm của G. E. Smith, W. J. Perry, F. Graebner, W. Schmidt và các tác giả Việt Nam, lý thuyết này được dùng để luận giải nguồn gốc xuất phát của tín ngưỡng Địa Mẫu từ Trung Quốc và con đường truyền bá vào Việt Nam thông qua di dân, kinh sách và các phương tiện truyền thông công nghệ số.
- Lý thuyết Giao lưu tiếp biến văn hóa (Acculturation): Vận dụng mô hình của Thomson và các học giả chuyên ngành, luận án phân tích quá trình tương tác tự nguyện giữa tín ngưỡng Địa Mẫu và văn hóa tín ngưỡng bản địa, dẫn tới sự điều chỉnh, hỗn dung và tích hợp văn hóa trong các không gian thờ tự của người Việt.
Hệ thống khái niệm công cụ được tác giả định nghĩa và giới hạn phạm vi sử dụng bao gồm: Tín ngưỡng, Không gian thiêng / Không gian thờ, Đình, Chùa, và Điện thờ tư gia.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và kỹ thuật điều tra xã hội học định lượng:
- Phương pháp tập hợp, phân loại và dịch thuật tư liệu: Thu thập các công trình chuyên khảo, bài báo khoa học; dịch văn bản Địa Mẫu chân kinh từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ để đối chiếu nội dung qua các bản in.
- Phương pháp điền dã dân tộc học / thực địa: Tiến hành quan sát tham dự, ghi chép, chụp ảnh, ghi âm, quay video, đo đạc không gian thờ tự và phỏng vấn sâu người quản lý di tích, chủ điện thờ, người thực hành đọc kinh và khách đi lễ tại các điểm khảo sát.
- Phương pháp phân tích, so sánh: So sánh đặc điểm thực hành Địa Mẫu giữa ba không gian thờ (đình, chùa, điện tư gia), giữa Hà Nội với các tỉnh Bắc Bộ và giữa Bắc Bộ với Nam Bộ.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Phát phiếu khảo sát ngẫu nhiên đối với người tham gia sinh hoạt tín ngưỡng (từ 18 tuổi trở lên, đa dạng về giới tính, trình độ, nghề nghiệp). Cuộc điều tra được tiến hành trong hai đợt (năm 2019 và năm 2022, gián đoạn trong các năm 2020–2021 do dịch bệnh Covid-19) với tổng số 470 phiếu khảo sát tại ba điểm nghiên cứu chính.
- Tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức từ Văn hóa học, Tôn giáo học, Xã hội học và Tâm lý học.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục luận án gồm phần Mở đầu (8 trang), 4 chương nội dung (155 trang), Kết luận (4 trang), Danh mục công trình khoa học của tác giả (1 trang), Tài liệu tham khảo (14 trang) và Phụ lục (160 trang).
Cơ cấu dung lượng 4 chương nội dung của luận án:
- Chương 1: 35 trang (chiếm 22,6%)
- Chương 2: 46 trang (chiếm 29,7%)
- Chương 3: 44 trang (chiếm 28,4%)
- Chương 4: 30 trang (chiếm 19,3%)
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận (35 trang)
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về tín ngưỡng, tôn giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu và các tài liệu liên quan đến Địa Mẫu. Tác giả phân tích các khái niệm công cụ và làm rõ khung lý thuyết truyền bá văn hóa cùng lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa, tạo tiền đề lý luận cho việc giải mã quá trình du nhập và thích nghi của tín ngưỡng Địa Mẫu tại Hà Nội.
Chương 2: Tín ngưỡng Địa Mẫu những vấn đề chung và thực tiễn (46 trang)
Chương 2 tập trung nhận diện các đặc trưng cốt lõi của tín ngưỡng Địa Mẫu và khảo sát thực tiễn phân bố:
- Nguồn gốc và danh xưng: Địa Mẫu có gốc tích từ tín ngưỡng thờ Mẹ Đất ở Trung Quốc cổ đại, được kinh điển hóa và lan tỏa mạnh từ đời Minh - Thanh. Danh xưng biến đổi linh hoạt tùy môi trường tiếp nhận: Đức Địa Mẫu, Diêu Trì Địa Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu, Phật Mẫu Địa Cầu.
- Hình tượng: Địa Mẫu được thể hiện qua hình tượng người phụ nữ búi tóc cao, đứng trên quả địa cầu, trang phục màu đen, một tay giơ trước ngực bắt ấn cứu độ, tay kia buông xuôi cầm vật biểu trưng cái chài lưới (đánh bắt cá) hoặc cầm tịnh bình.
- Kinh văn và nghi lễ thực hành: Văn bản trung tâm là Địa Mẫu chân kinh. Nghi thức tụng niệm diễn ra vào giờ Ngọ (11 giờ trưa) các ngày Mậu âm lịch hàng tháng. Lễ vía chính của Địa Mẫu được tổ chức vào ngày 18 tháng 10 âm lịch.
- Phân biệt “Địa Mẫu” và “Mẫu Địa”: Luận án làm rõ Mẫu Địa là vị Thánh Mẫu cai quản Địa phủ trong điện thần Tứ phủ bản địa của người Việt; trong khi Địa Mẫu là nữ thần vũ trụ ngoại lai biểu trưng cho toàn thể trái đất.
- Khảo sát thực tiễn: Khảo sát các điểm thờ Địa Mẫu tại Hà Nội và mở rộng đối chiếu tại Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình.
Chương 3: Quá trình hình thành, phát triển tín ngưỡng Địa Mẫu tại đình Ứng Thiên, chùa Vân Hồ và điện thờ họ Nguyễn ở Hà Nội (44 trang)
Chương này đi sâu vào ba nghiên cứu trường hợp tiêu biểu tại Hà Nội, chỉ ra sự dung hợp của tín ngưỡng Địa Mẫu theo từng loại hình không gian:
- Tại Đình Ứng Thiên (Láng Hạ, Đống Đa): Địa Mẫu dung hợp với không gian đình làng, được tiếp nhận và đóng góp thêm chức năng như một vị Thành Hoàng bảo trợ sự bình an, thịnh vượng cho cộng đồng cư dân.
- Tại Chùa Vân Hồ (Lê Đại Hành, Hai Bà Trưng): Địa Mẫu chịu ảnh hưởng của môi trường Phật giáo, được các tín đồ và nhà chùa nhìn nhận dưới tư cách một vị Phật hoặc Bồ Tát cứu độ chúng sinh.
- Tại Điện thờ tư gia họ Nguyễn (Trương Định, Hai Bà Trưng): Địa Mẫu được suy tôn làm thần chủ tối cao có quyền năng siêu nhiên tuyệt đối, cai quản không gian, thời gian, chư Tiên, Thánh, Phật và các linh hồn người đã khuất.
Bảng tổng hợp các biến số khảo sát xã hội học tại ba điểm nghiên cứu (năm 2019 và 2022):
| Điểm nghiên cứu |
Loại hình không gian |
Nhận thức về danh xưng/chủ thể kinh |
Cơ cấu người đi lễ (Giới tính, Độ tuổi, Nghề nghiệp) |
Mục đích mong cầu chính |
Đánh giá tính linh ứng và cầu đất đai |
| Đình Ứng Thiên |
Cơ sở tín ngưỡng cộng đồng (Đình) |
Khảo sát ý kiến đọc kinh Địa Mẫu là nghi lễ của nữ thần nào (2019 & 2022) |
Thống kê tỷ lệ nam/nữ, phân bổ nhóm tuổi và thành phần người đi lễ |
Cầu tài lộc, sức khỏe, bình an cho gia đình và cộng đồng |
Ghi nhận tỷ lệ linh ứng đối với các sở cầu thực tế |
| Chùa Vân Hồ |
Cơ sở tôn giáo (Chùa Phật giáo) |
Khảo sát nhận diện vị thế Địa Mẫu trong tương quan Phật giáo (2019 & 2022) |
Thống kê giới tính, độ tuổi, phân loại nghề nghiệp của khách đi lễ |
Cầu an, giải hạn, bình an tâm hồn, cầu duyên |
Thống kê mục đích cầu phù trợ kinh doanh, buôn bán bất động sản |
| Điện thờ họ Nguyễn |
Cơ sở tín ngưỡng tư nhân (Điện thờ tư gia) |
Khảo sát nhận diện quyền năng thần chủ Địa Mẫu (2019 & 2022) |
Thống kê cơ cấu giới tính, độ tuổi và thành phần tín đồ tham gia |
Cầu siêu, hộ trì gia đạo, chữa bệnh, giải trừ hoạn nạn |
Thống kê chi tiết nhu cầu cầu tài lộc và kinh doanh bất động sản |
Chương 4: Những đặc điểm, giá trị, xu hướng và vấn đề bàn luận về thờ Địa Mẫu (30 trang)
- Đặc điểm thờ phụng: So sánh sự khác biệt giữa hai miền: tại Nam Bộ, Địa Mẫu xuất hiện sớm, hòa nhập sâu trong đạo Cao Đài, Phật giáo và các miếu người Hoa; tại Bắc Bộ, tín ngưỡng có tuổi đời non trẻ hơn, nương tựa vào đình, chùa, điện thờ tư gia sẵn có để phát triển.
- Giá trị văn hóa: Luận án chỉ ra bốn giá trị: (1) Giá trị gắn kết cộng đồng; (2) Giá trị văn hóa tâm linh (chỗ dựa giải tỏa áp lực tinh thần); (3) Giá trị văn hóa đạo đức (khuyên răn hướng thiện, bảo vệ môi trường đất); (4) Giá trị biểu tượng đa nghĩa (Mẹ Trái Đất, vị cứu thế, thần tài lộc đất đai).
- Xu hướng vận động:
- Xu hướng tác động bởi nhu cầu kinh tế thị trường, đặc biệt là nhóm đối tượng kinh doanh bất động sản tìm kiếm sự may mắn trong giao dịch đất đai.
- Xu hướng sáng tạo và dung hợp linh hoạt với các tín ngưỡng bản địa (Phật giáo, Đạo Mẫu Tứ phủ, thờ Thành hoàng).
- Xu hướng truyền bá qua công nghệ số thời kỳ cách mạng 4.0 (thực hành nghi lễ online, chia sẻ kinh sách qua mạng internet, đặc biệt trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19).
- Vấn đề bàn luận: Quản lý hoạt động tín ngưỡng ngoại lai, phòng ngừa các biểu hiện lệch chuẩn tâm linh hoặc thương mại hóa tín ngưỡng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học
- Hệ thống hóa tư liệu và khẳng định nguồn gốc ngoại lai của tín ngưỡng Địa Mẫu du nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam, chỉ ra tuổi đời của tín ngưỡng này tại Hà Nội và Bắc Bộ còn non trẻ, phát triển dựa vào việc tích hợp với các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống sẵn có.
- Làm rõ cơ chế tiếp biến và chuyển đổi công năng của Địa Mẫu tùy theo không gian thờ tự (đình làng = Thành hoàng; chùa = Phật/Bồ Tát; điện tư gia = Thần chủ tối cao).
- Phân định rõ ràng ranh giới học thuật giữa hình tượng “Địa Mẫu” (Mẹ Trái Đất ngoại sinh) và “Mẫu Địa” (Thánh Mẫu Địa phủ nội sinh trong Tứ phủ).
- Nhận diện và phân loại ba nhóm chủ thể thực hành tín ngưỡng Địa Mẫu trong xã hội hiện nay:
- Nhóm người kinh doanh bất động sản (buôn bán, cho thuê nhà đất) tìm kiếm sự phù hộ về đất đai.
- Nhóm tín đồ thuần túy thực hành tụng kinh Địa Mẫu với tâm nguyện tôn thờ Mẹ Trái Đất, cầu nguyện điều tốt lành cho bản thân và xã hội.
- Nhóm chủ điện tư gia đưa Địa Mẫu về làm thần chủ nhằm thu hút tín đồ phục vụ các nhu cầu tâm linh đa dạng.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Cung cấp nguồn tài liệu thực chứng, cập nhật về một hiện tượng tín ngưỡng đương đại phục vụ công tác nghiên cứu văn hóa học và tôn giáo học.
- Đưa ra cơ sở thực tiễn giúp các cơ quan quản lý văn hóa, chính quyền địa phương hiểu rõ bản chất của tín ngưỡng Địa Mẫu, từ đó có định hướng quản lý phù hợp, tôn trọng nhu cầu tín ngưỡng chính đáng của người dân đồng thời hạn chế các biểu hiện biến tướng, mê tín dị đoan hoặc trục lợi thương mại trong bối cảnh kinh tế thị trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Quá trình điều tra xã hội học bằng bảng hỏi gặp nhiều khó khăn do diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19 trong các năm 2020–2021 khiến các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng phải tạm đóng cửa. Tâm lý e ngại, đề phòng của một bộ phận người đi lễ khi cung cấp thông tin cá nhân cũng ảnh hưởng nhất định đến độ sâu của một số phiếu khảo sát. Mặt khác, nguồn tư liệu lịch sử thành văn về quá trình du nhập ban đầu của Địa Mẫu vào Việt Nam còn rất khan hiếm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án mở ra hướng nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa tín ngưỡng Địa Mẫu tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ; theo dõi sự biến đổi của việc thực hành tín ngưỡng trên không gian mạng và các phương tiện truyền thông số trong tương lai.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo giá trị cho các đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Chuyên ngành Văn hóa học, Tôn giáo học, Nhân học, Xã hội học khi nghiên cứu về hiện tượng tôn giáo mới, tiếp biến văn hóa, tín ngưỡng thờ Mẫu và đời sống tâm linh đô thị.
- Giảng viên đại học: Sử dụng làm tư liệu giảng dạy các học phần về Văn hóa dân gian, Tín ngưỡng - Tôn giáo Việt Nam, Giao lưu tiếp biến văn hóa.
- Cán bộ quản lý văn hóa và hoạch định chính sách: Tham khảo bức tranh thực tế về sự chuyển biến của tín ngưỡng ngoại lai, nhu cầu tâm linh gắn với kinh tế bất động sản để xây dựng quy chế quản lý di tích và hoạt động tín ngưỡng cơ sở.
Các phần đáng tham khảo nhất trong luận án gồm: Chương 2 (phần phân tích hình tượng, kinh sách và sự khác biệt giữa Địa Mẫu và Mẫu Địa); Chương 3 (dữ liệu điền dã và thống kê xã hội học tại ba điểm đình Ứng Thiên, chùa Vân Hồ, điện họ Nguyễn); Chương 4 (các phân tích về giá trị văn hóa và xu hướng gắn với kinh tế thị trường).
Câu hỏi thường gặp
1. Tín ngưỡng Địa Mẫu tại Hà Nội xuất hiện từ thời gian nào và có văn bản lịch sử nào chứng minh?
Căn cứ vào văn bản Địa Mẫu chân kinh in tại đền Ngọc Sơn (Hà Nội) năm 1923, tín ngưỡng Địa Mẫu đã hiện diện tại Hà Nội từ đầu thế kỷ XX. Sau một giai đoạn bị gián đoạn, tín ngưỡng này tái xuất hiện và phát triển mạnh mẽ tại các cơ sở thờ tự từ sau năm 1986 đến nay.
2. Điểm khác biệt cốt lõi giữa "Địa Mẫu" và "Mẫu Địa" trong đời sống tâm linh người Việt là gì?
Mẫu Địa (Mẫu Địa phủ) là vị Thánh Mẫu cai quản cõi đất thuộc điện thần Tam phủ, Tứ phủ bản địa truyền thống của người Việt, gắn liền với hệ thống thần tích và trang phục màu vàng đặc trưng. Địa Mẫu là nữ thần có nguồn gốc từ Trung Quốc, biểu trưng cho toàn thể Mẹ Trái Đất (đứng trên quả địa cầu, mặc trang phục màu đen, tay cầm chài lưới hoặc tịnh bình), có hệ thống kinh văn riêng (Địa Mẫu chân kinh) và nghi thức tụng niệm vào giờ Ngọ các ngày Mậu âm lịch.
3. Tại sao tín ngưỡng Địa Mẫu lại thu hút đặc biệt nhóm người kinh doanh bất động sản ở Hà Nội?
Địa Mẫu được tôn vinh là Mẹ Đất cai quản toàn bộ cõi đất đai và tài nguyên địa cầu. Dưới tác động của nền kinh tế thị trường, nhiều người tham gia hoạt động buôn bán, cho thuê và đầu tư nhà đất đã đến cầu nguyện Địa Mẫu với niềm tin sẽ được thần linh phù hộ, mang lại may mắn, thanh khoản thuận lợi và giảm thiểu rủi ro trong các giao dịch đất đai.
4. Ba điểm nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội đại diện cho những mô hình dung hợp không gian nào?
Ba điểm nghiên cứu đại diện cho ba không gian chức năng khác nhau: Đình Ứng Thiên đại diện cho không gian đình làng (Địa Mẫu dung hợp với vai trò Thành hoàng bảo trợ cộng đồng); Chùa Vân Hồ đại diện cho không gian Phật giáo (Địa Mẫu được nhìn nhận như vị Phật/Bồ Tát cứu độ chúng sinh); Điện thờ tư gia họ Nguyễn đại diện cho không gian thờ tự gia đình (Địa Mẫu được tôn xưng làm thần chủ tối cao).
5. Luận án đã sử dụng cỡ mẫu điều tra xã hội học là bao nhiêu và tiến hành trong thời gian nào?
Tác giả đã thực hiện khảo sát ngẫu nhiên với tổng cộng 470 phiếu hỏi đối với khách đi lễ và tín đồ tại ba điểm nghiên cứu. Khảo sát được chia làm hai đợt vào năm 2019 và năm 2022 (quá trình điều tra bị gián đoạn trong giai đoạn 2020–2021 do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19).
Kết luận
Luận án tiến sĩ “Tín ngưỡng Địa Mẫu ở Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Hiền là công trình nghiên cứu hệ thống về một hiện tượng tín ngưỡng ngoại lai đang vận động trong lòng đô thị đương đại. Thông qua việc vận dụng lý thuyết truyền bá văn hóa, lý thuyết tiếp biến văn hóa cùng các dữ liệu điền dã và điều tra xã hội học thực chứng (470 phiếu khảo sát), công trình đã phân tích rõ quá trình du nhập, cấu trúc nghi lễ, kinh sách và sự khác biệt giữa Địa Mẫu với Mẫu Địa. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ cơ chế dung hợp linh hoạt của tín ngưỡng này trong ba không gian thờ tự (đình, chùa, điện tư gia) cũng như phản ánh mối liên hệ giữa nhu cầu tâm linh với các biến đổi kinh tế - xã hội tại Hà Nội giai đoạn từ sau năm 1986 đến năm 2022.