mở đầu cho thế hệ 1 của máy tính diện tử. Đặc trưng của thế hệ máy tính này là công nghệ đèn điện tử, máy tính hoạt động theo chương trình. Ngôn ngữ điều khiến trong giải đoạn này là ngôn ngữ máy. Tốc độ ban đầu tù 800 đến 10.000 phép tínhjgiầy đã gây ra một sự khâm phục của các đầu óc siêu việt thời đó.
Thế hệ máy tính thứ 2 bất đầu từ năm 1959 với việt phổ biến tông rãi các mấy tính xây dựng trên công nghệ bán dẫn và chuyển từ ngôn ngữ máy sang ngôn ngữ hình thức — thay cho các mã máy trực tiếp là việc dùng các ký biệu mô tả. Công nghệ bán dẫn cho phép ting tốc tốc tính toán lên hàng trăm ngàn phép tínhjgiây và lưu cất được hàng chục ngàn ký tự. Chỉ 5 năm sau, vào năm 1965 thế hệ máy tính thứ 3 ra đời với tông nghệ Mạch tích hop (IC — Integrated Circuit) eG bé và vừa, kích cỡ máy tính được giảm đáng kể, tính năng và độ tin cậy tầng cao nhiều lần. Tốc độ tính toán đạt dến hàng triệu phép tính một giây, có thể phân chia thời gian làm nhiều việc một lúc.
Ngôn ngữ lập trình chuyển sang hướng thủ tục. Cũng trong thời kỳ này ra đời chiếc máy mini đầu tiên của hãng DEC, Củng chỉ kếo dài được hơn 5 năm, thể hệ thứ 4 với công. nghệ Mạch tích hợp lớn (LSI — Large Scale Integration) va cuc lin (VLSI — Very Large Scale Integration) di chim dét thoi kỳ "ấn náu"” của máy tính và chuẩn bị chuyển sang thời kỳ mới — thời kỳ “bùng nổ”. Khái niệm lớn và cực lớn của mạch tính hợp không phải là kích cỡ mà chính là mật độ linh kiện.
Các mạch lớn và cực lớn có kích thước tất nhỏ, có thể tập trung hàng ngàn đến hàng triệu phần tử trên Imm’, và một vài tấm mạch như vậy với độ đài mỗi cạnh và em đủ làm cơ sở cho một máy tính biện đại. Thời kỳ “bùng nổ” - thế hệ 4 Đầu tiên là bóng điện tử (thế hệ 1), sau đó thay bóng điện tử bằng bóng bán dẫn (thế hệ 2), rồi gộp chung nhiều lính kiện bán dẫn trong một mạch tích hợp (thế hệ 3), đến thế hệ 4 nhiều mạch tích hợp được đồn nén trong một mạch tích hợp lớn và cực lớn (hàng triệu mạch trong một VLSI). Với công nghệ mới, các máy tính cầng mạnh, và khi hội tụ đủ điều kiện Máy vi tính ra đời tạo một cuộc Cách mạng công nghệ thực sự. Cuộc cách mạng này được đánh giá như cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 2 trong lịch sử nhân loại.
Trong thế hệ 4, các thiết bị vào#a, ‘uu cất và tính toán đều được phát triển. Nhiều công nghệ mới được bố sung như các thiết bị in ấn, bộ nhớ đùng tia laser, đĩa quang (CD ROM) với sức chứa 600 triệu ký tựwv. Cũng trong thế hệ này khái niệm phần mềm (Softwarc) — nhất là phần mềm ứng dụng được lầm rõ và thể biện vai trò quan trọng của mình. Máy tính thế hệ 4 đạt tới tốc độ từ hàng triệu đến hàng trăm triệu phép tính/giây Ị Các thành tựu tin học đạt được trong giảú đoạn 1975-1981 được đánh giá là hước ngoật quan trọng không chỉ trong lịch sử phát triển kỳ thuật tnh toấn mà trong toàn bộ nền văn mỉnh nhân loại Vào năm 1975 máy tính cá nhân vẫn chỉ là ước mơ của những đầu óc mạnh dạn nhất.
Một trong những chiếc máy vị tính cá nhân đầu tiên ra đời hiệu Altair do Robert chế tạo được ban với giá 397 USD cho những người yêu thích kỳ thuật điện tử để dùng chơi hoặc làm lỉnh kiện cho công việc khác. Máy không có màn hình, bàn phím nhưng có thể lập trình nhờ các chốt gạt lên xuống và kết quả hiện thị qua dãy đèn bdo. Robert phải cố gắng lắm mới thuyết phục nối ngân hàng rằng có thể tiêu thụ 80Ú máy/năm để hoàn tiền vay nợ. Thế mà chỉ trong 5 năm, hàng Apple xuất thân từ 2 sinh viên nghèo bỏ học bất đầu bằng sự nghiệp lắp máy vi tinh trong ga-ra 6 16 đã có vốn hàng trăm triệu USD.
đạt kỳ lục về tấc độ thành đạt trong số 500 công ty Mỹ lớn nhất. Chỉ với các sản phẩm phần mềm cho máy vi tính, chàng sinh viên Bill Gates — nay là giám đốc công ty Microsoft từ 2 bàn tay trắng đã tạo ra số vốn trên 7 tỳ USD sau chưa đầy 20 năm lận nghiện. Năm 1986, khi vị trí của các máy vi tính cá nhân được khẳng định rõ trên thị trường, các nhà khoa hoc đã xem xét lại quá trình phát triển mấy vi tính đế đi đến kết luận công lao đưa ra máy vi tính thuộc về ai Ba giải thưởng đã được trao cho 3 “viên gạch” nền móng Viên gạch thứ nhất là chiếc máy Alhair kế trên, hai viên gạch khác là máy Kenbak của John V. Hang nay do Andre Truong Trọng Thi — người (máy tính 1 Chúng ta hãy tưởng tượng tổng chiều dài dây dẫn mà tín hiệu cần chuyển dịch khi thực hiện các phép tính là 1m khi đó với tốc độ anh sang thể hệ 1 có kích cở lớn hơn rất nhiều lần).
Khi đó chỉ tính thời gian tín hiệu trên đường truyền, thì số chu trình tối đa thực hiện trong 1 giây chỉ có thể đạt 300.000 = 300 triệu - tương đương với tốc là 300.000km/s việc nâng tốc độ tính toán là đáng kinh ngạc. độ các máy siêu tỉnh (SuperGomputer) bay giờ. Các thành tựu đạt được trong 10 Việt quốc tịch Pháp sáng lập. Thế hệ 6 — thế hệ máy thông mình Máy tính thể hệ năm có lẽ sẽ khác hản máy thế hệ 4.
Nó sẽ có bộ nhớ rất lớn và tốc độ xử lý cực nhanh (đến hàng tỳ phép tính/giây), kích cỡ thu nhỏ nữa, thực hiện được một số chức năng "thông mính” của con người. Nhiều thành tựu tín học mới sẽ được đưa vào đời sống thường ngày như nhận dạng tiếng nói (mấy tính nghe và nói được), robot thông minh, các hệ chuyển gia tư vấn. Công nghệ xử lý song song cũng sẽ được hoàn thiện. Đây là triển vọng của một tương lai không xa.
Các lĩnh vực ứng dụng máy tính 3. Các nét chung Về quy mô ứng dụng các thiết bị tin học -- tính từ loại máy tính giá vai tram USD đến loại cao giá nhất là Cray SuperComputer giá trên 10 triệu USD — có thể thấy rõ qua bằng số liệu về tổng giá trị các thiết bị tin học đưa vào sử dụng: Năm Giá trị (triệu USD) 1950 “30 1970 12. các năm 90, trên thế giới mỗi năm sẽ có thêm khoảng 20 tỳ USD thiết bị tin học được đưa vào dùng từ 1994 đến năm 2000 sẽ phải chỉ cho công nghệ thông tin Việt nam 500 triệu USD (đề an ITTE 2000). Linh vuc ting dung va trién veng Nếu ngồi liệt kể tất cả các linh vực úng dụng Tin học thì sẽ là việc làm vô ích vì khó có điểm dùng.
Mọi lĩnh vực hoạt động của con người đều gắn với xử lý dữ liệu nên tiềm năng sử dụng máy tính có ở mọi chỗ. Năm 1977 các máy vi tính thương phẩm được bắn rộng rãi năm 1979 phần mềm ứng dụng đầu tiên viết cho máy ví tính là VisiCale (bảng tính điện tử) được tung ra thị trường, đến nay thì không thể kết hết các phần mềm ứag dụng đủ kiểu loại được bán với các kiếu giá khác nhau, day là chưa kể các quy trình xử lý đữ liệu được xây dựng theo đặt hàng riêng. Có thể phân chia các úng dụng tin học ra các loại sau đây: — Quản lý: trong các cơ quan tài chính, ngân hàng, công trình đô thị thống kê, quản lý nghiệp vụ các cơ quan, đặt chỗ máy bay, nghiệp vụ văn phòng, an nính, quốc phòng, Các bài toán quản lý thường đặc trung bởi lượng dữ liệu lớn, có nhiều mỗi ràng buộc với nhau và biến động thường xuyên, còn như cầu xủ lý thường là thống kê, tổng hop. Đã liệu quân lý chủ yếu ở đạng chữsố, ngày nay một số dạng dữ liệu khác như hình ảnh (bản đồ, vân tay, ảnh nhân sự,.), âm thanh cũng được đưa vào lưu trữ và xử lý.
— Khoa học kỹ thuật trong viễn thấm, thăm đồ địa chất, tính toán kết cấu, dầu khí, chấn đoán bệnh, 11 trong các viện nghiền cứu. Đặc trưng của các bài todn loại này là mỗi vấn đề đều gắn với một quy trình tính toán chuyên ngành riêng. Người đùng đưa các đữ liệu vào và máy tính sẽ tính toán đưa ra các kết quà cần thiết. — Thiết kế, sản xuất tạo mẫu in, đệt may, xây dựng, cơ khí điều khiến tự động.
Thuộc loại nầy thường bao gồm các vấn đề mô phỏng quy trình thực trên máy tính để hình dung trước được các kết quả mang lại, dự báo xu thế phát triển, thiết kế các mẫu mã với đầy đủ các tham số kỹ thuật cần thiết. Bước phát triển tiếp theo là dùng máy tính diều khiển trực tiếp máy công cụ để tạo sản phẩm đúng như mẫu đã thiết kế. — Văn hóu giáo dục phim ảnh (tạo hình ảnh với các kỹ sảo phong phú), đạy và bọc (công cụ để giúp giáo viên truyền đạt các nội dung môn học, giúp học sinh ôn luyện, trắc nghiệm,.), trò chơi giải trí. — Thông tin: dịch vụ thông tin công cộng qua đường điện thoại thư tía điện tử, mua hàng tại nhà, họp hội nghị từ xa.
; Chỉ tiết về các ứng dụng cụ thể sẽ được trình bày kỳ trong mục 5. Các khía cạnh xã hội Chúng ta dang chứng kiến sự phát triển không ngừng của các phương tiện và công cụ truyền thông ngay trong điều kiện kinh tế phát triển còn ở mức thấp như Việt nam. Đầu tiên là công cuộc “xe dap hoá” và "radio hóa” vào những năm 60, sau là "TV hoá" và "xe máy hóa” vào những năm 70, 80, và đầu những năm 90 triển khai công cuộc "điện thoại hóa” và bất đầu công cuộc "vi tính hóa”. Dấy là mặt nối của Công nghệ thông tin mà ai cũng nhìn thấy.