Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG I- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm của chiến tranh thương mại Chiến tranh thương mại không phải là một vấn đề của xã hội đương đại. Những xung đột như vậy đã diễn ra từ rất sớm trong lịch sử, khi các quốc gia tiến hành trao đổi, giao thương với nhau. Cuộc xung đột thương mại với quy mô của một cuộc chiến tranh được ghi nhận đầu tiên trong lịch sử là sự xung đột về quyền buôn bán độc quyền với các thuộc địa ở nước ngoài vào đầu thế kỷ XVII giữa hai cường quốc Anh và Mỹ.
a) Khái niệm “chiến tranh thương mại” Ở Việt Nam, thuật ngữ “chiến tranh thương mại” chỉ bắt đầu được sử dụng trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, cụ thể là sau khi Việt Nam tham gia các tổ chức kinh tế 11 quốc tế và tiến hành giao thương với nhiều quốc gia, trực tiếp hoặc gián tiếp chịu ảnh hưởng từ sự va chạm của các nền kinh tế. Đặc biệt, sau khi chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc (tháng 01/2018) nổ ra và diễn biến ngày càng phức tạp, cụm từ “chiến tranh thương mại” được sử dụng ngày càng phổ biến hơn trong các công trình nghiên cứu về thương mại quốc tế. Thuật ngữ “chiến tranh thương mại”, tiếng Anh là “trade war”, là sự kết hợp về nghĩa của hai thành phần “war” có nghĩa là “cuộc chiến”, “chiến tranh” và “trade” có nghĩa là “thương mại”. Về khái niệm “chiến tranh”, theo quan niệm của C.
Ăngghen, thuật ngữ “chiến tranh” để chỉ hiện tượng chính trị - xã hội mang tính lịch sử, là hoạt động đấu tranh giữa các giai cấp, các nhà nước, các lực lượng chính trị có địa vị, lợi ích đối lập nhau trong một nước hoặc giữa các nước nhằm đạt được mục đích chính trị nhất định. Theo Từ điển tiếng Việt, chiến tranh là sự xung đột vũ trang giữa các giai cấp, các dân tộc hoặc các nước nhằm thực hiện mục đích chính trị, kinh tế nhất định1. Theo Từ điển Anh - Việt Oxford, thương mại (Trade) là một khái niệm kinh tế cơ bản liên quan đến việc mua, bán hàng hóa và dịch vụ, với sự đền bù của người mua _______________ 1. Xem Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nxb.
Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Đà Nẵng, 2005, tr. 12 trả cho người bán hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ giữa các bên1. Theo Từ điển Kinh tế học Việt Nam, hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của các chủ thể kinh tế bao gồm việc trao đổi hàng hoá, cung ứng các dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc mục đích khác2. Thương mại là việc trao đổi hàng hóa giữa các cá nhân hay các nhóm trực tiếp thông qua trao đổi hiện vật (trao đổi), hoặc gián tiếp qua một phương tiện trung gian như tiền (thương mại, buôn bán, mậu dịch)3.
Từ điển Kinh tế học Việt Nam định nghĩa: chiến tranh thương mại là hiện tượng trong đó hai hay nhiều quốc gia tăng hoặc tạo ra thuế hoặc các loại rào cản thương mại (gồm giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, viện trợ đối với các ngành sản xuất trong nước/nội địa, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, yêu cầu khắt khe đối với hàng hóa nhập vào nội địa, lệnh cấm vận, hạn chế thương mại, và sự làm mất giá tiền tệ) với nhau nhằm đáp trả những rào cản _______________ 1. Xem Từ điển Anh - Việt Oxford, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007, tr. Xem Từ điển Kinh tế học Việt Nam, Nxb.
Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2017, tr. Xem Nguyễn Văn Ngọc: Từ điển Kinh tế học, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2006, tr. 13 thương mại của nước đối lập1.
Định nghĩa này tương đối rõ ràng và được giới khoa học trong nước thừa nhận và sử dụng. Trong cộng đồng quốc tế, khi nghiên cứu về khái niệm này, quan điểm của giới học giả phương Đông (Trung Quốc) và phương Tây (Mỹ và các nước châu Âu) về cơ bản là đồng nhất với nhau về nội hàm. Từ điển kinh doanh Trung Quốc cho rằng, chiến tranh thương mại là sự xung đột giữa hai hoặc nhiều quốc gia liên quan đến thuế quan thương mại với nhau. Loại xung đột này thường phát sinh do các quốc gia liên quan đang cố gắng cải thiện nhập khẩu hoặc xuất khẩu cho chính quốc gia của họ.
Chiến tranh thương mại có khả năng làm tăng chi phí của một số hàng nhập khẩu nếu các quốc gia liên quan từ chối thực hiện thỏa hiệp2. Về phía các học giả phương Tây, xuất hiện hai khái niệm phổ biến là: Thứ nhất, khái niệm của học giả James Chen (châu Âu) cho rằng chiến tranh thương mại là cuộc chiến kinh tế giữa hai quốc gia trong đó quốc gia A tăng thuế suất đối với hàng xuất khẩu của quốc gia B và quốc gia B sau đó tăng thuế đối với hàng xuất khẩu của quốc gia A để trả đũa. Thuế suất tăng được thiết kế để gây tổn hại về kinh tế cho quốc gia khác, vì thuế quan không khuyến khích mọi _______________ 1. Xem Từ điển Kinh tế học Việt Nam, Sđd, tr.
Xem Business Dictionary, Nxb. Hoa Nam, Trung Quốc, 2015, tr. 14 người mua sản phẩm từ các nguồn bên ngoài bằng cách tăng tổng chi phí của các sản phẩm đó1. Thứ hai, Manuel Perez Rocha, chuyên gia tại Viện nghiên cứu chính sách Mỹ, định nghĩa: chiến tranh thương mại là khi một quốc gia áp thuế hay những rào cản khác dành cho những sản phẩm nhập khẩu, khiến cho các quốc gia khác trả đũa bằng cách áp dụng những mức thuế hay các biện pháp trừng phạt tương tự2.
Hai quan điểm này về cơ bản là giống nhau về nội hàm. Tóm lại, chiến tranh thương mại là cuộc đối đầu giữa hai hay nhiều chủ thể thương mại thông qua các biện pháp thương mại áp dụng lên hàng hóa, dịch vụ của đối phương nhằm đạt được mục đích về kinh tế, chính trị. b) Bản chất của chiến tranh thương mại Chiến tranh thương mại bản chất là một tranh chấp thương mại quốc tế với những tác động trên quy mô lớn. Ở đây tranh chấp thương mại được hiểu là tranh chấp diễn ra khi một nước cho rằng một nước khác vi phạm thỏa thuận đã cam kết.
Đó là các tranh chấp tài sản phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại và thuộc quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp3. Xem Jame Chen: ”Trade War”, Investopedia, https://www. com/terms/t/trade-war. Xem Manuel Perez Rocha: “Here’s What You Nedd to knowabout Trum’p trade war”, http://fortune.com/2018/03/02/trump- trade-war-smoot-hawky/.
Xem Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 15 Chiến tranh thương mại về bản chất có thể hiểu là kết quả của sự mâu thuẫn ý thức giữa các tư tưởng khác nhau về chiều hướng hoạt động của thương mại quốc tế. Nguyên nhân của những mâu thuẫn này xuất phát từ tham vọng riêng của từng thực thể khi tham gia vào giao dịch quốc tế.
Khi những tham vọng thương mại này mâu thuẫn đến đỉnh điểm, không thể giải quyết bằng luật pháp quốc tế hoặc các biện pháp ngoại giao thì chiến tranh thương mại mới xảy ra. Xét về quy mô cũng như hậu quả để lại, chiến tranh thương mại là một hố đen lớn của nền kinh tế thế giới, tác động và ảnh hưởng của nó là toàn cầu. Nhưng ở một góc độ khác thì chiến tranh nói chung và chiến tranh thương mại nói riêng cũng là cơ hội để các chủ thể duy trì cũng như đảm bảo vị thế của mình trong môi trường quốc tế. Khi nhắc đến một cuộc chiến như vậy, các thực thể tham chiến ở đây thường là các cường quốc hoặc các liên minh kinh tế lớn của thế giới, phạm vi và mức độ ảnh hưởng là nền kinh tế toàn cầu.
Ở một góc nhìn hẹp hơn, chiến tranh thương mại diễn ra khi một quốc gia cho rằng quốc gia đối phương đã vi phạm các cam kết về thương mại, thực hiện chế độ thương mại không công bằng, làm tổn hại đến lợi ích kinh tế của quốc gia đó. Trong tác phẩm Tiểu luận về chiến tranh ở Đức, Ph. Ăngghen cho rằng: bản chất của một cuộc chiến tranh thể hiện trên hai mặt cơ bản và luôn có sự thống nhất với nhau: mặt chính trị và mặt bạo lực (vũ trang hoặc phi vũ trang). Chính trị là mục đích, bạo lực là phương thức, 16 biện pháp để thực hiện mục đích chính trị; hai mặt này không tách rời nhau1.
Trong đó, chính trị quyết định chiến tranh và chiến tranh tác động to lớn trở lại đối với chính trị. Áp dụng học thuyết này để giải thích về chiến tranh thương mại có thể thấy rằng, thương mại ở đây thuộc mặt bạo lực phi vũ trang và là biện pháp thực hiện mục đích chính trị của các chủ thể chiến tranh. Theo đó, chiến tranh thương mại về cơ bản không hoàn toàn là về thương mại mà nó là biểu hiện ở cấp độ cao hơn của sự cạnh tranh chiến lược vì mục đích chính trị. Một tính chất đặc trưng của các ý thức hệ là tìm cách đồng hóa các ý thức hệ còn lại để chỉ còn tồn tại một thể duy nhất.
Chiến tranh thương mại có thể xem như quá trình đồng hóa các ý thức hệ thương mại của các bên đối lập, chiến tranh thương mại chỉ dừng lại khi quá trình đồng hóa này kết thúc. c) Nguyên nhân chiến tranh thương mại Đa phần các cuộc chiến tranh thương mại trong lịch sử được bắt nguồn từ lợi ích kinh tế bị xâm hại và phục vụ nhu cầu chính trị, đối ngoại,. của quốc gia. Các nguyên nhân của chiến tranh thương mại có thể bắt nguồn từ các nguyên nhân quốc gia, hoặc hệ thống quốc tế.
* Cấp độ quốc gia (hay xã hội) Ở cấp độ quốc gia, quan điểm về nguyên nhân chiến tranh thương mại xuất phát từ mối liên quan giữa chiến _______________ 1. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 17 tranh thương mại và nhu cầu bảo hộ nhằm phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn.
Ví dụ về nguyên nhân Pháp và Italy tiến hành “chiến tranh thương mại” trong giai đoạn từ năm 1871 đến năm 1886 như sau: Ngay sau khi thống nhất Italy năm 1871, quốc gia non trẻ này đã chuyển sang bảo hộ để nuôi dưỡng các ngành công nghiệp “sơ khai”, và theo đó chấm dứt hiệp định thương mại với Pháp vào năm 1886.