phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 2 chƣơng, 5 tiết. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái lƣợc các cách tiếp cận lý thuyết “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” 1. Cách tiếp cận kinh tế học về Lợi thế cạnh tranh quốc gia của M.
Porter Sức cạnh tranh cũng nhƣ lợi thế cạnh tranh quốc gia là một trong những mối quan tâm chính đối với chính phủ và nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào. Có nhiều lý thuyết trong lịch sử lý giải hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của một quốc gia, bắt đầu từ thời Adam Smith đã nổi lên lý thuyết lợi thế tuyệt đối. Lợi thế tuyệt đối của mỗi nƣớc sẽ đƣợc củng cố bằng lợi thế tự nhiên nhƣ giàu tài nguyên thiên nhiên, nhân công dồi dào, giá rẻ. cũng nhƣ những lợi thế có đƣợc nhờ tiến bộ trong khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý để bù đắp những thiếu hụt về tài nguyên.
Với lập luận tƣơng tự, David Ricardo triển khai lý thuyết lợi thế tuyệt đối thành lợi thế so sánh, khi các nƣớc phải nhƣờng bớt những công đoạn dù đang chiếm lợi thế tuyệt đối cho nƣớc khác để tập trung làm những gì đem lại lợi ích nhiều nhất cho họ, để tận dụng tác động của chi phí cơ hội. Mục tiêu kinh tế chính của một quốc gia là mang lại cho ngƣời dân một mức sống cao, tăng dần và bền vững. Khả năng làm điều đó phải dựa vào năng suất sử dụng các nguồn lực (nhân công và vốn). Bất kỳ lý thuyết mới nào về lợi thế cạnh tranh quốc gia phải bắt nguồn từ các tiền đề: thứ nhất, các doanh nghiệp có thể lựa chọn những chiến lƣợc khác nhau.
Thứ hai, các đối thủ cạnh tranh thành công trên trƣờng quốc tế thƣờng tham gia cạnh tranh với những chiến lƣợc toàn cầu trong đó kết hợp cả thƣơng mại và đầu tƣ nƣớc ngoài, phải vƣợt ra khỏi lợi thế so sánh thông thƣờng để hƣớng tới lợi thế cạnh tranh quốc gia, phải bắt đầu từ tiền đề cạnh tranh có tính động và phát triển, phải biến sự cải tiến và đổi mới trong các phƣơng pháp và công nghệ trở 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành một yếu tố trung tâm. Cuối cùng, các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra lợi thế cạnh tranh, hành vi của doanh nghiệp là bộ phận không thể thiếu đối với lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia [9, tr. Thực tế phát triển kinh tế ở nhiều nƣớc đã giúp hình thành các lý thuyết khác, mà gần đây nhất là lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của Michael Porter. Để đạt đƣợc lợi thế cạnh tranh, các nƣớc và doanh nghiệp phải chủ động trong xây dựng các yếu tố, trong đó có một yếu tố gần gũi với chủ đề Việt Nam đang đề cập – các nền công nghiệp phụ trợ.
Từ việc nhận ra nhu cầu của thị trƣờng, trƣớc tiên là thị trƣờng trong nƣớc, kết hợp với các lợi thế trong lao động, tài nguyên, vốn liếng, kỹ thuật, một ngành công nghiệp sẽ có lợi thế cạnh tranh nếu có thêm những ngành công nghiệp liên quan hỗ trợ. Lợi thế cạnh tranh này càng củng cố nếu đƣợc sự hỗ trợ của chính quyền trong việc tháo bỏ những rào cản hành chính, xây dựng một môi trƣờng kinh doanh bình đẳng, tiên liệu đƣợc để doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện mình qua cạnh tranh, nâng cao năng suất tổng thể [7, tr. Dĩ nhiên, toàn cầu hóa đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các yếu tố này; chẳng hạn, nhu cầu thị trƣờng không nhất thiết đến từ trong nƣớc mà từ xuất khẩu, vốn hay công nghệ vẫn có thể mua hay thu hút từ nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và công nghiệp phụ trợ phải hiểu trên qui mô toàn khu vực hay toàn cầu – linh kiện có thể nhập dễ dàng để cung ứng cho sản xuất trong nƣớc. Các tập đoàn đa quốc gia chọn nơi để làm căn cứ sản xuất cho thị trƣờng toàn cầu của họ cũng dựa vào toan tính trên những yếu tố cạnh tranh này.
Cái gốc của sức cạnh tranh quốc gia là gì? Đó là câu hỏi không nhỏ để giải bài toán phát triển. Chẳng hạn, một số quốc gia tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách trợ giúp cho khu vực xuất khẩu nhƣ phá giá đồng bản tệ hay trợ cấp xuất khẩu. Thực ra đây là một sự nhầm lẫn bởi vì: thứ nhất, biện pháp trợ giúp này của chính phủ chỉ có tác động làm tăng xuất khẩu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong một số ngành, chứ không hề làm cho ngành trở nên cạnh tranh hơn, nhất là về công nghệ và gia tăng hàm lƣợng lao động sáng tạo; thứ hai, một sự điều tiết nhƣ vậy còn tiết lộ một điều nữa là những ngành đƣợc trợ giúp thiếu khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng quốc tế nên các ngành đó không thể đứng vững bằng đôi chân của mình; thứ ba, việc trợ giúp của chính phủ đối với một số ngành đã tạo ra sự cạnh tranh không bình đằng giữa các ngành bên trong nền kinh tế trong việc sử dụng nguồn lực khan hiếm của quốc gia. “Việc ƣu ái cho ngành này có thể đẩy các ngành khác vào thế bất lợi và hậu quả có thể là nguồn lực trong nền kinh tế bị sử dụng lãng phí một khi chính phủ ƣu ái cho những ngành thiếu khả năng cạnh tranh.
Thực ra mậu dịch quốc tế chỉ đề cập đến vấn đề trao đổi có lợi cho cả các bên tham gia giao dịch. Vấn đề tăng năng suất của các doanh nghiệp mà cuối cùng nó dẫn đến sự thịnh vƣợng của một quốc gia không phải chỉ phụ thuộc vào thặng dƣ mậu dịch. Dƣờng nhƣ không có giới hạn từ sự thịnh vƣợng hay tăng trƣởng mang lại từ sự cạnh tranh của một quốc gia. Một số quốc gia vẫn có tốc độ tăng trƣởng cao, mức sống của ngƣời dân đƣợc nâng lên đáng kể cho dù tỷ trọng ngoại thƣơng của họ không đáng kể và ngay cả khi mà cán cân mậu dịch của họ âm” [7, tr.
Có thể nói rằng nguồn gốc của mức sống tăng lên không những đƣợc quyết định bởi năng suất mà nó phụ thuộc vào giá trị sản phẩm liên quan đến chất lƣợng và sự khác biệt sản phẩm và hiệu quả hoạt động sản xuất. Năng suất của một quốc gia không phải chỉ thể hiện ở các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu mà quan trọng hơn nó còn đƣợc thể hiện trong tất cả các doanh nghiệp cung ứng sản phẩm thị trƣờng trong nƣớc [7, tr. Vấn đề quan trọng của tăng năng suất là làm thế nào để các doanh nghiệp trong ngành cạnh tranh với nhau và doanh nghiệp nào có năng lực thực sự có thể đứng vững đƣợc trên thị trƣờng. Để trả lời câu hỏi lợi thế cạnh tranh của một ngành hay quốc gia có phải chủ yếu dựa vào giá lao động rẻ không? Câu trả lời có thể thông qua việc 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com so sánh sự khác nhau giữa lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh.
Lợi thế so sánh dựa vào mậu dịch nhƣ là một cách thay thế cho sự di chuyển các yếu tố sản xuất nhƣ vốn, lao động giữa các quốc gia. Lợi thế cạnh tranh tập trung vào phía cung của nền kinh tế. Điều kiện nhƣ giá nhân công rẻ thể hiện chỉ một phần đặc trƣng của lợi thế cạnh tranh. Năng suất cao là một khái niệm bao quát nhất liên quan đến lợi thế cạnh tranh của quốc gia, khái niệm này bao gồm không những là giá nguồn lực rẻ mà nó còn bao gồm chất lƣợng của các yếu tố sản xuất, cơ sở hạ tầng và cả việc lựa chọn các địa điểm đầu tƣ của các doanh nghiệp.
Năng suất của quốc gia cũng đƣợc thể hiện ở chỗ các doanh nghiệp trong nƣớc và nƣớc ngoài chọn lựa vị trí để tiến hành hoạt động kinh doanh (lựa chọn vị trí đầu tƣ). Nhƣ vậy, cạnh tranh đề cập không những mậu dịch mà nó còn đề cập đến đầu tƣ. Qua cách tiếp cận kinh tế Việt Nam có thể hiểu hơn về lợi thế cạnh tranh quốc gia chính là đem lại lợi thế kinh tế tối ƣu nhất cho một quốc gia. Cách tiếp cận của chính trị học về lợi thế cạnh tranh quốc gia của M.
Porter Cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh vốn là khái niệm kinh tế học, trong khuôn khổ của luận văn này sự chuyển dịch sang khung lý thuyết của chính trị học của đối tƣợng nghiên cứu này đƣợc thể hiện ở việc vấn đề năng lực cạnh tranh quốc gia đƣợc xem xét từ góc độ ảnh hƣởng của các định vị chiến lƣợc, các thể chế, các chính sách và giải quyết các quan hệ liên quan đến môi trƣờng phát triển trên phạm vi quốc gia và thực thi chủ quyền nhà nƣớc. Trƣớc đây đã có rất nhiều luận thuyết quy giản nguồn gốc của những cách biệt giàu nghèo hay sự phát triển chỉ do yếu tố nhƣ địa lý, văn hóa, sự thiếu hiểu biết, tuyệt đối hóa các yếu tố trên nhƣ định mệnh là những giả thuyết có sức thuyết phục, nhƣng quá trình toàn cầu hóa cùng với sự phát triển về khoa học và công nghệ đã làm thay đổi mạnh mẽ quan niệm và thực tiễn phát triển của xã hội hiện đại. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên phƣơng diện vĩ mô, và từ những nghiên cứu so sánh các mẫu theo chiều lịch đại và đồng đại, Michael E. Porter đƣa lý giải có thể tham khảo, về đại thể, ông lập luận rằng: (1) Thịnh vƣợng hay đói nghèo không phải là vận mệnh, mặc định cho bất cứ quốc gia hay dân tộc nào.
Việc xác định và xây dựng đƣợc lợi thế cạnh tranh quốc gia sẽ mạng lại sức mạnh cho đất nƣớc và muốn thực hiện đƣợc điều đó cần xây dựng một nền kinh tế và một nền chính trị thích hợp;(2) Trƣờng hợp của Ai Cập trong sự kiện “cách mạng màu” cho thấy tham nhũng và bất lực của chính quyền, con ngƣời không đƣợc tôn trọng và trọng dụng là những vấn đề chính trị đang cản trở sự phát triển. Khi quyền lực chính trị bị kiểm soát bởi một nhóm nhỏ, nó sẽ tạo ra tài sản khổng lồ cho những ngƣời nắm giữ, trong khi ngƣời phải trả giá, chịu thiệt thòi là đại đa số quần chúng nhân dân; (3) Sự thất bại ở một số quốc gia cho thấy tính vấn đề của thể chế, trong đó sự chi phối của thể chế khai thác (chiếm đoạt), Michael E. Porter coi đây là nhân tố kìm hãm quan trọng đối với sự phát triển.