mở đầu của Ngoại trưởng Mỹ Waren Christoper tháng 8/1995, nhiều phái đoàn cấp cao của Mỹ như đoàn của Bộ trưởng Thương mại Mỹ, đoàn do cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Anthony Lake đã sang thăm Việt Nam. Chủ tịch nước Lê Đức Anh cũng đã có cuộc gặp Tổng thống Bill Clinton bên lề khoá họp nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Liên Hợp Quốc tại New York tháng 10/1995. Thủ tướng Phan Văn Khải có cuộc tiếp xúc với Tổng thống Bill Clinton tại Hội nghị cấp cao APEC ở Auckland (New Zealand) tháng 11/1998. Việt Nam đã đón tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Madeleen Albright, Bộ trưởng tài chính Robert Rubin, Cựu Tổng thống George Bush cùng nhiều quan chức cao cấp khác trong chính phủ Mỹ.
Đặc biệt, Tổng thống Bill Clinton đã sang thăm Việt Nam vào ngày 17- 18/11/2000. Đây là một sự kiện lớn trong quan hệ giữa hai nước. Qua các chuyến thăm đó, hai bên đã hiểu nhau hơn, từ đó thúc đẩy quá trình giải quyết những vấn đề còn tồn tại và tìm giải pháp cho sự hợp tác lâu dài. Việt Nam và Mỹ đã có những bước đi cụ thể tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động kinh tế, thương mại giữa hai nước như ký các hiệp định về xử lý nợ, Hiệp định về hoạt động của Tổ chức đầu tư tư nhân hải ngoại (OPIC), hai hiệp định với Ngân hàng xuất nhập khẩu Mỹ (Eximbank) nhằm khuyến khích các dự án đầu vào Việt Nam.
Ngày 10/3/1998, Việt Nam được hưởng miễn trừ không phải áp dụng Tu chính án Jackson – Vanik nhưng vẫn giữ quyền hàng năm xem xét hiệu lực của đạo luật này. Như vậy, Việt Nam sẽ có thể tham gia vào các chương trình khuyến khích xuất khẩu và hỗ trợ đầu tư của Mỹ, bao gồm các chương trình liên quan đến ngân hàng Eximbank, OPIC [35; 22]. Về phía Việt Nam, chính phủ đã tuyên bố dành cho Mỹ quy chế Tối huệ quốc (MFN) trong buôn bán và được gia hạn hàng năm. Trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau, năm 2000, hai nước đã ký Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ hoàn tất việc bình thường hoá quan hệ giữa hai nước.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước khi bỏ cấm vận, kim ngạch thương mại giữa hai nước rất thấp. Năm 1992 và 1993, Việt Nam nhập 4,5 và 7,0 triệu đô la hàng hoá từ Hoa Kỳ và không xuất khẩu gì. Năm 1994, kim ngạch ngoại thương giữa hai nước là 222,673 triệu đô la, tăng 31 lần so với năm 1993. Sang năm 1995, kim ngạch ngoại thương tăng vọt đến 451,826 triệu đô la, gấp 2 lần năm 1994 [35; tr.
Từ năm 1994, quan hệ thương mại đầu tư giữa hai bên không ngừng phát triển. Đến nay, Mỹ là một trong số 10 quốc gia và vùng lãnh thổ có quan hệ buôn bán và đầu tư lớn nhất với Việt Nam với tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều năm 2000 là 1,1 tỉ USD và tổng vốn đầu tư khoảng hơn 1 tỉ USD với 120 dự án. Sự phát triển của hợp tác kinh tế thương mại Việt - Mỹ còn được đánh dấu bằng sự có mặt của các công ty hàng đầu của Mỹ ở Việt Nam như công ty dầu khí Mobil, Exxon, công ty sản xuất Ô tô xuyên quốc gia Ford và Chrysler, các ngân hàng City Bank và Bank of America. Tuy nhiên cho đến nay, quan hệ kinh tế - thương mại Mỹ - Việt vẫn chưa được bình thường hoá hoàn toàn vì Mỹ chưa dành cho Việt Nam quy chế quan hệ thương mại bình thường (NTR) do Hiệp định Thương mại song phương chưa được Quốc hội hai nước phê chuẩn.
Ngay cả sau khi Hiệp định được phê chuẩn, việc trao NTR vẫn là có điều kiện, cần phải xem xét và được gia hạn hàng năm dựa trên quyết định là Việt Nam đã thực hiện nghiêm chỉnh những cam kết trong Hiệp định thương mại và vấn đề tự do di trú chưa. Như vậy, quan hệ Việt - Mỹ từ chỗ thù địch đã dần chuyển sang quan hệ đối tác làm ăn, hợp tác cùng phát triển. Điều này là phù hợp với xu thế chung của thế giới và với cả lợi ích của các bên. Nhu cầu của hai nƣớc đối với thị trƣờng của nhau 1.
Lợi ích đối với Việt Nam 1. Lợi ích kinh tế 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau khi ra khỏi chiến tranh, nền kinh tế Việt Nam bị tàn phá nặng nề và phụ thuộc nhiều vào buôn bán và sự hỗ trợ kinh tế của Liên Xô và các nước Đông Âu (sự hỗ trợ này lên tới khoảng 1 tỉ USD/năm). Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới, bình quân GDP chưa đầy 200 USD/người, lạm phát cao (năm 90 là 64%, năm 91 là 67%) [33]. Vào đầu thập kỷ 90, chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ nên viện trợ nước ngoài giảm mạnh, kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng trầm trọng.
Đại hội VI Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986 đã khởi xướng công cuộc đổi mới nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng nhưng lệnh cấm vận của Mỹ là một trở ngại lớn đối với việc phát triển kinh tế của Việt Nam. Với lệnh cấm vận này, khả năng Việt Nam tham gia vào thương mại khu vực và quốc tế hầu như là không thể, ngoại trừ với khối XHCN. Việt Nam không nhận được các khoản vay và viện trợ của các tổ chức tài chính quốc tế (do bị Mỹ ngăn cản) nên đã không có vốn để cải thiện hạ tầng cơ sở yếu kém của mình. Lệnh cấm vận cũng đã ngăn cản các nước khác thiết lập quan hệ kinh tế với Việt Nam.
Một số công ty và chính phủ một số nước vẫn còn ngại chính sách cấm vận và trừng phạt của Mỹ nên chưa vào đầu tư kinh doanh hoặc giúp đỡ Việt Nam. Theo cuộc điều tra 27 công ty hàng đầu của Nhật Bản cho thấy các công ty này coi cấm vận thương mại của Mỹ là sự ngăn cản lớn nhất đối với họ khi xâm nhập vào Việt Nam [15; tr.106], vì mọi sản phẩm có trên 10% nội dung được sản xuất tại Mỹ đều nằm trong phạm vi của những quy định cấm vận nên các công ty nước ngoài, khi giao dịch với Việt Nam, thường phải xem xét kỹ tỉ lệ xuất xứ hàng hoá, nếu không rất dễ bị Mỹ - một thị trường rộng lớn và quan trọng đối với nhiều nước trên thế giới - trừng phạt. Một số chính phủ là đồng minh của Mỹ, trong đó có Nhật Bản, cũng đã không thể khuyến khích đầu tư tư nhân của họ tại Việt Nam (thực tế chỉ sau khi Mỹ bỏ cấm vận và bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, đầu tư của Nhật Bản và một số quốc gia khác vào Việt Nam mới bước đầu được thúc 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trong hoàn cảnh như vậy, để chính sách đổi mới thành công là rất khó vì muốn thành công thì phải làm sao thu hút được vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý từ các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ vì Mỹ là một nước có nền kinh tế khổng lồ với GDP luôn đứng đầu thế giới và có trình độ khoa học công nghệ tiên tiến vào bậc nhất thế giới.
Hợp tác với Mỹ sẽ là cách tốt nhất để Việt Nam có thể tiếp thu vốn, công nghệ, học hỏi được những kinh nghiệm quản lý của các công ty Mỹ, những kiến thức về quản lý kinh doanh công nghiệp, nông nghiệp. Kinh nghiệm của các nước ASEAN cho thấy chính vốn, công nghệ của Mỹ thông qua đầu tư trực tiếp là những nhân tố thúc đẩy tăng trưởng của các nước này. Hơn nữa, việc nhận được quy chế Tối huệ quốc (MFN) sau khi bình thường hoá quan hệ với Mỹ cũng sẽ tạo điều kiện cho hàng hoá của Việt Nam thâm nhập thị trường Mỹ, một thị trường có sức tiêu thụ lớn nhất thế giới, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngoài ra, các công ty Mỹ còn là những người đứng đầu thế giới trong việc xây dựng các hệ thống hạ tầng cơ sở, có kỹ thuật, công nghệ cao và tiếp cận được các thị trường tài chính để trở thành những người đóng vai trò lớn trong việc giúp Việt Nam đáp ứng các nhu cầu về xây dựng hạ tầng cơ sở yếu kém của mình.
Chính vì vậy mà việc bình thường hoá quan hệ với Mỹ là rất quan trọng đối với Việt Nam. Lợi ích chính trị Nhờ sức mạnh kinh tế, quân sự và khoa học kỹ thuật, Mỹ đóng vai trò quan trọng và có ảnh hưởng lớn đối với nhiều nước trên thế giới, vì vậy, việc bình thường hoá quan hệ với Mỹ sẽ giúp Việt Nam dần thoát khỏi thế bị cô lập, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, khai thông các trở ngại trên con đường mở rộng ngoại giao đa phương của mình, tạo cho Việt Nam một tư thế thuận lợi trong hợp tác nhiều mặt với các nước, nhất là về kinh tế. Trên thực tế, dù nhiều nước phương Tây đã vượt Mỹ trong 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cải thiện quan hệ với Việt Nam nhưng do có sự phụ thuộc nhất định hoặc có quan hệ chặt chẽ với Mỹ nên mức độ quan hệ với Việt Nam của họ cũng phải dựa vào những động thái của Mỹ. Do đó, khi quan hệ Việt - Mỹ được cải thiện, Việt Nam sẽ có thể mở rộng quan hệ một cách toàn diện và hiệu quả hơn với các nước này, tận dụng thế mạnh về kinh tế, khoa học công nghệ của những nước đó cho công cuộc phát triển kinh tế của mình.
Mặt khác, để thực hiện chính sách hội nhập khu vực và thế giới, bình thường hoá quan hệ với Mỹ là một yêu cầu có tính tiên quyết đối với Việt Nam vì Mỹ là nước có vai trò và tiếng nói quan trọng trong các diễn đàn và thể chế quốc tế, Việt Nam không thể gia nhập các tổ chức như APEC, WTO mà không có sự ủng hộ của Mỹ. Trong quan hệ với các nước Đông Nam Á cũng vậy, có lẽ chừng nào Mỹ chưa bỏ cấm vận và bình thường hoá quan hệ với Việt Nam thì chừng đó, Việt Nam chưa thể gia nhập tổ chức khu vực này được. Việt Nam còn muốn sử dụng mối quan hệ bình thường với Mỹ để góp phần giữ an ninh và ổn định ở khu vực biển Đông vì đây là khu vực tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột. Mặc dù ở đây đang có sự tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc, Việt Nam, Philippin, Malaixia và Brunei nhưng chỉ có Trung Quốc thường xuyên có những hành động gây hấn với Việt Nam.