Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ 1. Khái niệm về chính trị và quan hệ chính trị Từ “chính trị” có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Xét đến những quan niệm khác nhau về chính trị trước chủ nghĩa Marx: Trước hết, ở phương Tây, chính trị trong tiếng Hy Lạp gọi là “Politica”, có gốc từ thuật ngữ “polis” (thành bang).
Trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại, người ta cho rằng chính trị là công việc của nhà nước. Triết gia Aristotle (384 – 322 TCN) quan niệm rằng chính trị là khoa học kiến trúc xã hội, là khoa học lãnh đạo con người. Và, con người là “động vật chính trị” [45, tr. Hay nói cách khác, đó là một “nghệ thuật cung đình” [43, tr.
Bước vào thời kỳ phục hưng, chính trị được quan niệm như “những hoạt động nhằm điều tiết hành động của những các nhân trong xã hội” [59, tr. Nhiệm vụ của nó là giúp hình thành một “khế ước” nhằm tạo ra khuôn khổ của một xã hội dân sự với hệ thống các quy định mà mọi người sống trong đó. Trong thời kỳ này, có khi chính trị được ví như một “nhà hát” mà mỗi con người đều tham gia một vai diễn của chính mình. Tấm kịch ấy tuy được đạo diễn về mặt tổng thể, nhưng mỗi nhân vật, trong quá trình “biểu diễn”, đều có thể có những ngẫu hứng của riêng mình.
Trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, triết gia người Đức Max Weber (1881 – 1961) định nghĩa rằng chính trị là khác vọng tham gia vào quyền lực, “sự phân chia quyền lực giữa các quốc gia, bên trong quốc gia, giữa các tập đoàn người trong một quốc gia” [59, tr. Mặt khác, các nhà khoa học Mỹ thì cho rằng chính trị không gì khác hơn là một sự tìm kiếm các giải pháp nhằm thực hiện phân phối lợi ích. Ở phương Đông, trước hết là Trung Quốc cổ đại, tuy có nhiều hệ tương tưởng khác nhau, nhưng tất cả đều cho rằng chính trị được là sự sắp xếp, quản lý 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làm sao để xã hội luôn ở trong khuông phép, trật tự, kỷ cương. Các nhà tư tưởng kinh điển đều tìm cách thực hiện chính trị theo quan niệm ấy.
Khổng Tử (551 – 479 TCN) cho rằng chính trị là chính đạo, chính danh: “bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính” [43, tr. Nghĩa là ai cũng phải làm tốt bổn phận của chính mình. Bởi lẽ, theo Khổng Tử “danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc bất thành, việc bất thành thì mọi điều lễ nhạc không gây lại được, không gây được lễ nhạc thì hình phạt sai trệt cả, hình phạt không đúng thì dân sẽ bó tay” [44, tr. Lão Tử (sống cùng thời với Khổng Tử) thì chủ trương “vô vi nhi trị” nghĩa là đem cái tự nhiên dể giúp một cách tự nhiên theo cách “ta không làm mà dân tự hóa, ta thức yên mà dân tự chính, tạ vô sự mà dân hộ giàu, ta ham muốn mà dân thật thà” [45, tr.
Còn Hàn Phi Tử (280 -232 TCN) lại phủ nhận cả 2 tư tưởng của Nho Gia và Đạo gia. Tư tưởng của ông về chính trị là sự kết hợp 3 nội dung: pháp, thế và thuật. Đến thời cận đại, Tôn Trung Sơn đưa ra cách nhìn riêng của mình về chính trị trong chủ nghĩa Tam dân, theo đó chính trị là quản lý việc của dân chúng. “Chính là việc của dân chúng, trị là quản lý” [59, tr.
Về phía các nhà nghiên cứu Nhật Bản, họ cho rằng chính trị là hoạt động áp đạt quyền lực, thỏa mãn lợi ích. Chủ nghĩa Marx - Lenin ra đời với cách nhìn nhận toàn diện, đúng đắn về chính trị thông qua phép biện chứng duy vật của mình đã khắc phục những nhược điểm của các quan niệm trước nó. Theo quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin, chính trị là lợi ích, quan hệ lợi ích giữa các giai cấp. Chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước.
Vấn đề cơ bản của chính trị là việc tổ chức chính quyền nhà nước. Ngoài ra, chính trị chính là biểu hiện tập trung của kinh tế. Nó vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Xuất phát từ quan điểm ấy, các nhà khoa học Liên Xô đã định nghĩa chính trị như sau: “Chính trị theo nguyên nghĩa của nó là những công việc của nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước” [1, tr.
Nói một cách tổng quát, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, mà tập trung ở quyền lực nhà nước” [60, tr. Suy rộng ra, quan hệ chính trị giữa 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hai quốc gia chính là các hoạt động liên quan đến việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị của quốc gia mình với quốc gia kia. Khái niệm kinh tế và quan hệ kinh tế Tương tự như khái niệm về “chính trị”, phạm trù “kinh tế” với cách nhìn qua những lăng kính khách nhau cũng sẽ khác nhau, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất. Dưới góc độ thỏa mãn nhu cầu của con người, thì kinh tế chính là hoạt động tạo ra của cải vật chất cho con người và xã hội.
Dưới góc độ quan hệ giữa con người với con người, kinh tế được xem là tổng hợp những quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Theo quan niệm của kinh tế học (mà Adam Smith là cha đẻ với tác phẩm "An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations", ra đời năm 1776) thì kinh tế chính là hành vi của con người trong mối quan hệ giữa nhu cầu vô hạn với những nguồn lực có hạn cần được lựa chọn để sử dụng. Chính sự khan hiếm các nguồn lực luôn đặt loài người đứng trước sự lựa chọn, cách thức tiến hành các lựa chọn này, cũng như hậu quả của chúng. Kinh tế học là khoa học của sự lựa chọn, nó nghiên cứu 3 vấn đề cơ bản của kinh tế, đó là: sản xuất cái gì và bao nhiêu? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Về phía các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế thì kinh tế được quan niệm là: “tổng thể các ngành sản xuất và dịch vụ sản xuất của một nước, có liên quan với nhau bởi sự phân công lao động xã hội.
Kinh tế quốc dân bao gồm những ngành lao động, và sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ và các lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tài chính, tín dụng phục vụ các ngành đó” [34, tr. Theo quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin, kinh tế là sự tổng hòa các quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất ấy bao gồm: quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất, và quan hệ phân phối sản phẩm. Như vậy, kinh tế là toàn bộ các quan hệ sản xuất và trao đổi của cải vật chất trong xã hội loài người.
Nó là một chuỗi liên tục từ khâu sản xuất, đến khâu phân phối, trao đổi, tiêu dùng của xã hội. Từ đó, khái 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm “quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia” có thể được hiểu là “tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoại” [84, tr. 5] của hai nước đó với nhau. Nội dung của lĩnh vực kinh tế đối ngoại rất đa dạng, bao gồm: quan hệ ngoại thương (mua bán trao đổi hàng hóa vô hình, hữu hình); quan hệ dịch vụ quốc tế (du lịch quốc tế, giao thông vận tải, bảo hiểm quốc tế…); quan hệ đầu tư quốc tế (đầu tư trực tiếp, gián tiếp, tín dụng quốc tế); lĩnh vực tài chính quốc tế (vay nợ, thanh toán quốc tế); quan hệ trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ… 1.
Các quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế Quan điểm của chủ nghĩa xã hội dân chủ Tư tưởng này không những chỉ trích chủ nghĩa tư bản, mà giờ đây còn lên án cả chủ nghĩa xã hội. Những người ủng hộ quan điểm này tuyên bố đi theo con đường thứ 3, với một xã hội họ mong muốn xây dựng dựa trên nguyên tắc: “dân chủ chính trị, dân chủ kinh tế, dân chủ xã hội” [59, tr. Họ không đồng thuận với quan điểm của chủ nghĩa xã hội và cho rằng đó là một xã hội được xây dựng với hệ thống chính quyền quan liêu, và đặc biệt là có sự khác biệt trong quan hệ phân phối (do có đặc quyền đặc lợi). Quan điểm của chủ nghĩa xã hội dân chủ khẳng định rằng chủ nghĩa xã hội chính là kẻ thù của nền hòa bình dân chủ; và chuyên chính vô sản sẽ “xóa bỏ mọi nền dân chủ”.
Về phía chủ nghĩa tư bản, họ cũng kịch liệt phê phán tư tưởng này. Họ cho rằng chủ nghĩa tư bản hàm chứa trong nó sự bất bình đẳng, bất công trong xã hội. Bản chất của chủ nghĩa tư bản là sự bốc lột của số ít đối với số đông, chỉ phục vụ lợi ích của thiểu số giàu có. Sự bốc lột ấy phản ánh tính tiêu cực trong sự phát triển của xã hội tư bản.
Nó là căn nguyên của nhiều vấn đề xã hội như bạo lực, chiến tranh, đói nghèo… Theo quan điểm này, dân chủ chính trị là nền tảng và là điều kiện tiên quyết của chủ nghĩa xã hội dân chủ. Nếu không thực hiện điều kiện này thì sẽ không đạt được chủ nghĩa xã hội, không có tự do. Chính dân chủ chính trị (nghĩa là đảm bảo mọi công dân đều có đầy đủ các quyền về mặt chính trị như: tự do ngôn luận, tự do lập hội, bầu cử phổ thông…) mới chính là nền tảng cho dân chủ kinh tế (nền kinh tế nằm dưới sự quản lý của toàn xã hội, sở hữu tư nhân vẫn được thừa nhận, song sở hữu xã hội nắm vai trò quan trọng). Kinh tế muốn phát triển thì phải có sự tham gia 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyết định của rộng rãi người lao động trong các quyết định về kinh tế.