ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay xu hướng điều trị bằng thuốc có nguồn gốc thiên nhiên đặc biệt là từ thực vật ngày càng tăng. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới về nghiên cứu các thuốc từ dược liệu, ngoài các yếu tố như hiệu quả lâm sàng, độ an toàn, cơ chế tác dụng thì cần thiết phải có các nghiên cứu, phương pháp để đánh giá chất lượng dược liệu một các khoa học [35]. Dược điển Việt Nam là công cụ, cơ sở pháp lý cho việc kiểm nghiệm dược liệu, tuy nhiên, trong Dược điển Việt Nam V có tất cả 1519 tiêu chuẩn quốc gia về thuốc lại chỉ có 372 tiêu chuẩn về dược liệu và thuốc dược liệu [7], do đó để đánh giá và quản lý chất lượng dược liệu thường tham khảo theo những tiêu chuẩn trong các Dược điển trên thế giới. Điều này cho thấy rằng, việc xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho các dược liệu để sử dụng trong sản xuất và đời sống tại Việt Nam là vô cùng cần thiết trong điều kiện hiện nay.
Đinh lăng hay còn gọi là Đinh lăng lá xẻ, Đinh lăng lá nhỏ, cây Gỏi cá, Nam dương lâm (Polyscias fruticosa (L.) là một loài cây được trồng phổ biến và rộng rãi ở khắp nơi trên Việt Nam để làm cảnh, gia vị và làm thuốc. Rễ Đinh lăng được sử dụng làm thuốc với các tác dụng như tiêu sưng viêm, giải độc, bổ huyết, tăng sữa [2]. Hiện nay, rễ Đinh lăng đã được đưa vào sử dụng làm thuốc, có quy chuẩn chất lượng ở Dược điển Việt Nam V, bộ Tiêu chuẩn Quốc gia. Việc thu hái rễ Đinh lăng và không sử dụng toàn bộ phần còn lại của cây khiến cho nguồn nguyên liệu bị bỏ đi là rất lớn, gây lãng phí.
Do đó, để đánh giá và sử dụng hiệu quả trong sản xuất nhằm góp phần nâng cao giá trị của dược liệu thân Đinh lăng và làm cơ sở cho sử dụng dược liệu thân Đinh lăng làm thuốc nhóm nghiên cứu đã thực hiện nhiệm vụ “Nghiên cứu thành phần hóa học, độc tính và một số tác dụng sinh học chính của dược liệu thân Đinh lăng lá xẻ (Polyscias fruticosa (L.) họ nhân sâm Araliaceae” Xuất phát từ ý tưởng trên, nhóm nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài “Xây dựng tiêu chuẩn của dược liệu thân Đinh lăng tại một số vùng trồng GACP tỉnh Nam Định” với mục tiêu: Khảo sát và xây dựng một số chỉ tiêu kiểm nghiệm chính của thân Đinh lăng (Polyscias fruticosa) được trồng và thu hái tại vùng trồng GACP tỉnh Nam Định. TỔNG QUAN VỀ LOÀI POLYSCIAS FRUTICOSA 1. Vị trí phân loại Theo hệ thống phân loại của Takhtajan năm 2009 [37], loài Polyscias fruticosa có vị trí phân loại như sau: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp Cúc (Asteridae) Bộ Hoa tán (Apiales) Họ Nhân sâm (Araliaceae) Chi Đinh lăng (Polyscias) Loài Polyscias fruticosa 1. Đặc điểm thực vật loài Polyscias fruticosa Tên khoa học: Polyscias fruticosa (L.
Tên đồng nghĩa: Panax fruticosum L. Tên thường gọi: Đinh lăng, Đinh lăng lá xẻ, Đinh lăng lá nhỏ, cây Gỏi cá, Nam dương lâm [2], [15]. Cây nhỏ, xanh tốt quanh năm, có thể cao đến 2 m. Thân nhẵn, không gai, ít phân nhánh, mang nhiều vết sẹo to, màu xám.
Lá to, mọc so le, kép lông chim 2 – 3 lần, dài 20 – 40 cm; lá chét có răng cưa nhọn, đôi khi chia thùy, gốc và đầu thuôn nhọn, có mùi thơm khi vò nát; cuống lá dài, phát triển thành bẹ to ở phần cuối. Cụm hoa mọc ở ngọn thành hình chùy ngắn mang nhiều tán; lá bắc rộng, sớm rụng; hoa nhỏ, màu lục nhạt hoặc trắng xám; đài 5 răng hàn liền, mép uốn lượn; tràng 5 cánh hình trái xoan; nhị 5, chỉ nhị ngắn; bầu hạ, 2 ô. Quả dẹt, hình trứng, màu trắng bạc. Mùa hoa quả: tháng 4 – 7.
[15], [2] 2 Hình 1: Cây Đinh lăng Polyscias fruticosa (L. Đặc điểm phân bố của loài Polyscias fruticosa Cây Đinh lăng lá xẻ có nguồn gốc từ vùng đảo Polynésie (Thái Bình Dương) và được trồng phổ biến ở nhiều nước Đông Nam Á như Malaysia, Indonesia, Campuchia, Lào… Ở Việt Nam, Đinh lăng lá xẻ cũng được trồng từ lâu và khá phổ biến ở vườn gia đình, đình chùa, trạm xá để làm cảnh và rau gia vị. Do biết tác dụng bổ dưỡng của Đinh lăng lá xẻ nên từ năm 1961 nhân dân đã trồng nhiều ở trạm xá, bệnh viện… để làm thuốc [2]. Thành phần hóa học chính của loài Polyscias fruticosa Theo giáo sư Ngô Ứng Long và cộng sự (Viện Y học Quân sự) và Viện Vấn đề Y sinh học Liên Xô, rễ và lá Đinh lăng chứa saponin, alcaloid, các vitamin tan trong nước như B1, B2, B6, C…, 20 loại acid amin, glycosid, phytosterol, tanin, acid hữu cơ, tinh dầu, nhiều nguyên tố vi lượng và 21,10% đường [15], [16].
Trong đó saponin và polyacetylen là những nhóm chất chính đang được khoa học tập trung nghiên cứu. Sau đây xin được phép trình bày các hợp chất đã được phân lập trên loài Polyscias fruticosa theo nhóm hợp chất được phân lập. a) Saponin Năm 1992, Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự đã phân lập được acid oleanolic [19] (hình 2). Từ năm 1995 đến năm 1998, lần lượt cấu trúc của 13 saponin triterpenoid có phần sapogenin là acid oleanolic được công bố trong đó có 8 saponin được đặt tên là polysciosid A đến H [27], [36], [41].
Năm 2014, Hồ Lương Nhật Vinh phân lập được 3 saponin triterpenoid từ lá của cây Đinh lăng, trong đó có 1 saponin triterpen mới [24]. Năm 2016, Trần Thị Hồng Hạnh phân lập được polysciosid I [32]. Tiếp tục đến 3 năm 2018, hai saponin mới được phát hiện là polysciosid J và K [28]. Tất cả các saponin triterpenoid phân lập được đều có phần genin là acid oleanolic (hình 3).
Hình 2: Công thức của acid oleanolic Hình 3: Công thức chung của saponin terpenoid của cây Đinh lăng Bảng 1. Các saponin được tìm thấy trong cây Đinh lăng STT R1 R2 1 H H 2 Gal- (1->2)- Glc H 3 Rha- (1->4)- Glc H 4 Glc- (1->4)- Glc Glc- 5 Glc-(1->2)- Glc H Glc- (1->2) Glc- H 6 Glc- (1->4) Ara- (1->2) Glc- 7 H Glc- (1->2) 4 Gal- (1->2) Glc- 8 H Glc- (1->3) 9 Glc- (1->4)- Glc Glc- Glc- (1->2) Glc- 10 Glc- Glc- (1->4) Ara- (1->2) Glc- 11 Glc- Glc- (1->4) Gal- (1->2) Glc- 12 Glc- Glc- (1->3) 13 Glc- (1->4)- Glc Rha- (1->3)- Glc- Glc- (1->2) Glc- 14 Rha- (1->3)- Glc- Glc- (1->4) 15 Gal- (1->4)- Glc Glc- Glc- (1->2) 16 Glc- Glc- (1->2)- Glc- Glc- (1->4) Glc- (1->2) Glc- 17 Glc- Glc- (1->4) Glc- (1->2) 18 Glc- Glc- (1->2)- Gal- Glc- (1->4) Saponin cũng phân bố không giống nhau trong các bộ phận của cây Đinh lăng lá xẻ. Cụ thể bằng phương pháp cân thì hàm lượng saponin toàn phần xác định được như sau: trong rễ 0,49%, vỏ rễ 1,00%, lõi rễ 0,11% và lá 0,38% [17]. Năm 2011, bằng phương pháp HPLC đã xác định được hàm lượng acid oleanolic ở rễ 0,063%; ở thân và lá 1,5% [21].
Cũng bằng phương pháp này, năm 2012 nhóm nghiên cứu của trường Đại học Dược đã công bố kết quả định lượng acid oleanolic trong rễ là 0,001 – 0,015% và cao khô là 0,015 – 0,035% [13]. b) Polyacetylen 5 Bên cạnh saponin, polyacetylen cũng là một hợp chất trong cây Đinh lăng được các nhà khoa học rất quan tâm do các tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm, chống virus và chống kết tập tiểu cầu. Polyacetylen được tìm thấy ở các cây thuộc họ Nhân sâm và trước đây được phân lập chủ yếu từ Nhân sâm [18]. Năm 1992, từ rễ của loài Polyscias fruticosa (L.) Harm, Lutomski và cộng sự đã phân lập được 5 hợp chất thuộc loại hợp chất polyacetylen [33], [19] như sau: (8E)–heptadeca–1,8–dien–4,6–diyn–3,10–diol (8E) –heptadeca–1,8–dien–4,6– (1) diyn–3–ol–10–on (2) (8Z)–heptadeca–1,8–dien–4,6–diyn–3–ol–10– falcarinol (4) on (3) panaxydol (5) Tuy nhiên hàm lượng polycetylen trong rễ Đinh lăng rất ít, hàm lượng của (8E)- heptadeca-1,8-dien-4,6- diyn-3,10-diol là 0,003% và của falcarindiol là 0.
c) Một số nhóm chất khác Năm 1989, Nguyễn Khắc Viện đã nghiên cứu và cho thấy trong rễ có 4% saccarose; một chất kết tinh A chưa xác định cấu trúc hóa học, có điểm sôi trong khoảng 158 – 161oC, tan nhiều trong cloroform và aceton [23]. Năm 1990, Nguyễn Thới Nhâm và cộng sự đã công bố 20 loại acid amin trong thành phần của rễ, thân và lá Đinh lăng như arginin, alanin, asparagin, acid glutamic, leucin, lysin, phenylalanin, prolin, threonin, tyrosin, cystein, tryptophan, methionin. Năm 2010, Nguyễn Thị Lan bằng phương pháp GC và GC-MS đã phân tích thành phần tinh dầu của lá cây Đinh lăng ở tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa. Kết quả cho 6 thấy trong tinh dầu Đinh lăng có 15 hợp chất như là β-elemen, δ-elemen, E-γ- bisabolen, α- bergamoten, β-germacren-D, gecmacren-B… [14].
Năm 2017, một hợp chất sterol phân lập từ rễ Đinh lăng đã được xác định được cấu trúc là 22-dehydro-24-isopropylcholesterol [39]. Tác dụng sinh học và công dụng của loài Polyscias fruticosa a) Tác dụng sinh học Các nghiên cứu về tác dụng sinh học của Polyscias fruticosa đa số thực hiện ở bộ phận rễ cho thấy: Tác dụng cải thiện trí nhớ Cao ethanol rễ Đinh lăng được chứng minh có tác dụng cải thiện trí nhớ trên chuột ở mức liều 300 mg/kg thể trọng thông qua mô hình thắt tạm thời hai động mạch cảnh chung gây thiếu máu não cục bộ, đồng thời với đó nghiên cứu cũng chỉ ra cơ chế tác dụng của cao ethanol Đinh lăng thông qua việc tăng cường biểu hiện gen ChAT và muscarinic M5 [11]. Tác dụng kích thích thần kinh trung ương Cao Đinh lăng có tác dụng rút ngắn thời gian ngủ của natri barbital ở khoảng liều từ 45-180 mg/kg, tăng vận động tự nhiên của chuột nhắt ở khoảng liều 45 – 90 mg/kg thể trọng và giảm vận động tự nhiên ở khoảng liều trên 180 mg/kg thể trọng. Do đó, cao Đinh lăng có khả năng kích thích thần kinh trung ương ở khoảng liều dưới 180 mg/kg [25].
Tác dụng tăng cường thể lực Đinh lăng có tác dụng tăng lực, tăng sức chịu đựng của cơ thể đối với các yếu tố bất lợi như kiệt sức, mệt mỏi, nóng. Hơn nữa, rễ Đinh lăng làm cho nhịp tim trở lại bình thường sau khi chạy dài sức. Người bị suy nhược uống Đinh lăng giúp chóng phục hồi cơ thể, ăn ngon, ngủ tốt, tăng cân. Nước sắc Đinh lăng có tác dụng tăng sự dẻo dai của cơ thể trên thí nghiệm cấp tính tương tự Nhân sâm [23].
Tác dụng lợi tiểu Nghiên cứu từ dịch chiết ether dầu hỏa của Đinh lăng trên chuột cống trắng thấy rằng ở mức liều 250 và 500 mg/kg thể tích nước tiểu tăng đáng kể, tăng đào thải natri và kali, tác dụng lợi tiểu tương tự như furosemid nhưng mẫu thử có ưu điểm là có tác dụng giữ Clo [40].