chương 1, tác giả đã trình bày một cách khái quát, toàn diện về bài nghiên cứu và đưa ra nền tảng cho các chương tiếp theo. Chương này mô tả một cách ngắn gọn, cô đọng về các khía cạnh của nghiên cứu bao gồm lý do chọn lựa đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cung cấp một cái nhìn tổng quát về bố cục của đề tài nghiên cứu sẽ được trình bày trong những chương sau. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các lý thuyết và khái niệm liên quan 2.
Tiếp thị liên kết Tiếp thị liên kế là một hình thức quảng bá sản phẩm dịch vụ thông qua đối tác liên kết (publisher), khi đó doanh nghiệp (advertiser) sẽ chiêu thị sản phẩm hoặc dịch vụ của mình thông qua bên thứ ba, chẳng hạn như bloggers, người nổi tiếng, khách hàng trung thành của doanh nghiệp và đổi lại doanh nghiệp đó sẽ trả tiền hoa hồng cho đối tác liên kết mỗi khi khách hàng tạo ra doanh số bán hàng. Ba bên tham gia tiếp thị liên kết là: nhà cung cấp, nhà nhà tiếp thị liên kết và khách hàng (Tumwesigye & Nkansah- Asamoah 2008). Nhà cung cấp có thể là bất kỳ công ty nào bán các sản phẩm như đồ điện tử, sách, quần áo và vé máy bay trực tuyến hoặc có thể là công ty bảo hiểm bán chính sách,. Nhà tiếp thị liên kết là người quảng bá sản phẩm hoặc dịch vụ của nhà quảng cáo thông qua trang web hoặc trang cá nhân của mình.
Phần cuối cùng của chu trình này là thời điểm mà khách hàng nhìn thấy quảng cáo, cú nhấp chuột sẽ đưa khách hàng từ trang web của tiếp thị liên kết đến trang web của nhà quảng cáo và đưa ra quyết định mua hàng (Singh 2017). Syrdal và cộng sự (2023) lập luận rằng tiếp thị liên kết bao gồm một thỏa thuận hợp đồng trong đó các đối tác liên kết kiếm hoa hồng bằng cách quảng cáo sản phẩm hoặc dịch vụ do nhà bán lẻ cung cấp hoặc nhà sản xuất khác phát triển, tạo ra. Prabhu & Satpathy (2015) cho rằng tiếp thị liên kết là một hình thức kinh doanh trực tuyến trong đó một bên thứ ba, tức là bên đối tác liên kết nhận được khoản tiền hoa hồng cho mỗi lượt truy cập hoặc tỷ lệ chuyển đổi của khách hàng thông qua mã giới thiệu hay các siêu liên kết trên. Có nhiều cách để tính toán khoản lợi nhuận được chia cho nhà tiếp thị liên kết, có thể kể đến như chi phí cho mỗi lượt nhấp chuột (CPC- Cost per click), chi phí cho mỗi lượt đăng ký nhận thông tin (CPL- Cost per lead), chi phí cho mỗi đơn đặt hàng (CPO- Cost per order).
Hình ảnh minh họa về khái niệm tiếp thị liên kết Nguồn: Prabhu & Satpathy (2015) Chỉ số đo lường hiệu quả công việc (KPI- key performance indicator) luôn là mục tiêu chung của các doanh nghiệp khi quyết định sử dụng công cụ tiếp thị liên kết để đưa sản phẩm, dịch vụ của mình đến khách hàng tiềm năng, nó cho thấy nội dung quảng cáo được phân phối bởi những người có khả năng lan truyền hình ảnh cho thương hiệu gây được tiếng vang như thế nào với người dùng mạng xã hội (Syrdal và cộng sự 2023). Cả những đối tác làm tiếp thị liên kết và nhà quảng cáo trả tiền cho họ để quảng bá thương hiệu của họ đều quan tâm đến số lượng bài đăng và các tương tác với quảng cáo vì có một số rủi ro cố hữu cho cả hai bên trong mối quan hệ của họ. Chẳng hạn như các nhà quảng cáo có nguy cơ làm tổn hại đến giá trị thương hiệu của chính họ nếu những người làm tiếp thị liên kết đăng tải nội dung quảng cáo không tạo được tiếng vang tốt với những người theo dõi họ (Teresa Borges-Tiago và cộng sự 2023). 10 Tiếp thị liên kết chính là một hình thức của tiếp thị số, nó có thể được xem là một trong những cách quảng cáo sản phẩm được ưa chuộng nhất thế giới.
Ở đó những người tham gia tiếp thị thường sử dụng một hoặc nhiều website để quảng bá những sản phẩm cho một hoặc nhiều nhà sản xuất khác nhau và nhận những khoản hoa hồng sau khi thực hiện một yêu cầu nào đó từ nhà sản xuất. Tiếp thị liên kết tối ưu hơn phương thức quảng cáo truyền thống bởi chúng ta chỉ được trả hoa hồng nếu việc quảng bá sản phẩm là hiệu quả và sản phẩm được bán cho người tiêu dùng (Nguyễn Tiến Dương & Ngô Huy Dũng 2016). Nhờ tốc độ và độ chính xác gắn liền với công nghệ thông tin và truyền thông này, việc phát triển những ý tưởng kinh doanh cũng được cải tiến hơn bao giờ hết. Các khóa học trực tuyến Việc học trực tuyến có thể được thực hiện thông qua nhiều nền tảng khác nhau, như ứng dụng trên điện thoại di động hay trang web của tổ chức.
Do thiết kế đơn giản, cách sử dụng đơn giản, chi phí thấp và dễ dàng tương tác, các lớp học ảo đang trở nên phổ biến hơn trong giáo dục (El Boghdady và cộng sự 2019). Bên cạnh đó, mỗi sinh viên sẽ có nhu cầu học tập và cải thiện các kỹ năng mềm khác nhau tùy theo lĩnh vực mà sinh viên đó đang theo học tại hệ đại học chính quy. McKechnie và cộng sự (2020) tuyên bố rằng việc khuyến khích các nền tảng học tập trực tuyến sẽ giúp sinh viên có thêm nhiều lựa chọn tích lũy kiến thức bên ngoài các tổ chức học thuật truyền thống như các trường đại học công lập. Bên cạnh đó, việc sinh viên tích hợp cơ sở dữ liệu từ Internet vào các hoạt động học trập như thế nào sẽ quyết định sự cải thiện kết quả học tập nhờ vào hệ thống e-learning.
Trong một nghiên cứu của Shah (2020) đã chứng minh rằng thị trường học tập trực tuyến đang trở nên phổ biến và được ngành giáo dục áp dụng rộng rãi. Sự tăng trưởng của thị trường học tập điện tử có thể được chứng minh bằng việc thị trường học tập điện tử toàn cầu dự kiến sẽ đạt 65,41 tỷ đô la vào năm 2023 và tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng trung bình tích lũy là 7,07%. Sự tăng trưởng trong tương lai của ngành giáo dục bậc đại học có liên quan đến sự xuất hiện của các nền tảng học tập trực tuyến 11 mới, như Coursera và edX, cung cấp các khóa học trực tuyến cho gần 200 triệu người học trên toàn cầu. Bên cạnh đó, MOOC là một trong những hình thức học tập trực tuyến phổ biến nhất hiện nay, thường tuyển sinh hàng trăm, thậm chí hàng nghìn người học cùng một lúc.
Để phù hợp với số lượng người học lớn như vậy, các lớp học này thường cung cấp đăng ký mở – tức là đăng ký quanh năm hoặc trong một khung thời gian được xác định – và có cả hình thức học tập phù hợp với lịch trình cá nhân hay tốc độ học tập riêng. Trong MOOC, sinh viên sẽ sử dụng nhiều phương tiện trực tuyến và các công cụ tương tác để tương tác với những người dạy và những người học khác. Các phương tiện có thể bao gồm các bài giảng video, bài báo, thảo luận, bài tập và tương tác (Xuân Hiệp 2021). Ý định sử dụng của khách hàng Ý định sử dụng (Intention to Use -INU) được định nghĩa là thái độ và các chuẩn chủ quan của con người với các đối tượng, sự việc.
Trong mô hình hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action- TRA) của Ajzen và Fishbein (1975), ý định hành vi đo lường khả năng của niềm tin, các yếu tố tạo động lực và việc thúc đẩy cá nhân thực hiện hành vi nhằm phản ứng lại với các tác nhân kích thích. Trong những năm gần đây, ý định hành vi là yếu tố nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các mô hình liên quan đến sự chấp nhận công nghệ. Ý định mua sắm của người tiêu dùng cũng có thể được hiểu là khả năng mà người tiêu dùng sẵn sàng chi trả để mua sản phẩm, dịch vụ. Các doanh nghiệp có thể đoán trước các yếu tố có ảnh hưởng đến ý định hành vi của khách hàng để dự đoán khả năng mua của khách hàng (Dodds và cộng sự 1991).
Các khung lý thuyết nền tảng 2. Thuyết hành động hợp lý -Theory of Reasoned Action (TRA) Thuyết hành động hợp lý TRA hay còn gọi là mô hình được nghiên cứu bởi Fishbein & Ajzen (1975). Lý thuyết này cho thấy hành vi tiêu dùng (Actual behavior) 12 được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó. Ý định thực hiện hành vi chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố: Thái độ và ảnh hưởng xã hội đối với hành vi.
Niềm tin đối với những Thái độ hướng thuộc tính sản phẩm đến hành vi Ý định mua hàng Hành vi mua hàng Niềm tin đối với nhóm tham khảo nghĩ rằng tôi nên mua hay không nên mua; sự thúc đẩy làm theo ý muốn của những Chuẩn chủ quan người xung quanh Hình 2. Lý thuyết hành động hợp lý TRA Nguồn: Fishbein & Ajzen (1975) Cụ thể hơn, thái độ của người tiêu dùng sẽ bị ảnh hưởng bởi niềm tin dành cho các thuộc tính (hay nói cách khác là lợi ích) của sản phẩm và mức độ tác động của các thuộc tính đó. Ngoài ra, chuẩn chủ quan chính là niềm tin về chuẩn mực mà người tiêu dùng theo đuổi, họ sẽ xem xét thông qua những người có ảnh hưởng đến bản thân như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp cùng các yếu tố ngoại cảnh khác. Mức độ của niềm tin về các yếu tố bên ngoài như trên cũng sẽ ảnh hưởng đến chuẩn chủ quan của người tiêu dùng (Fishbein & Ajzen 1975).
Thuyết hành vi có kế hoạch -Theory of Planned Behavior (TPB) Thuyết hành vi có kế hoạch còn gọi là lý thuyết hành vi hoạch định, đây là mô hình mở rộng của thuyết TRA. Hành vi thực sự của một cá nhân được quyết định bởi xu hướng hành vi của họ. Mặt khác, xu hướng hành vi sẽ bị ảnh hưởng bởi 3 yếu tố, bao gồm thái độ đối với hành vi đó (tiêu cực hay tích cực), chuẩn chủ quan (ảnh hưởng của xã hội khiến cá nhân thực hiện hoặc không thực hiện hành vi) và kiểm soát hành vi cảm 13 nhận, đây chính là nhân tố được mở rộng so với thuyết TRA. Yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận chính là việc người đó nhận diện hành vi thực hiện dễ dàng hay khó khăn (cơ hội và nguồn lực).
Đặc biệt, kiểm soát hành vi có thể tác động trực tiếp và dự báo được cả hành vi thực sự (Ajzen 1991).