MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Vai trò quan trọng của ngôn ngữ và của phân môn Tiếng Việt Cùng với lao động, ngôn ngữ cũng góp phần hình thành và phát triển xã hội loài người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp phổ biến và thuận lợi nhất, được coi là “sáng tạo kỳ diệu của loài người”.
Ngôn ngữ còn là công cụ tổ chức quá trình tư duy, giúp tư duy phát triển. Mặt khác, ngôn ngữ đóng vai trò là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành cộng đồng dân tộc, duy trì và phát triển truyền thống văn hóa của dân tộc. Với người Việt Nam, tiếng Việt là ngôn ngữ bản địa, góp phần duy trì sự thống nhất quốc gia, dân tộc. Bên cạnh chức năng giao tiếp, chức năng tư duy, ngôn ngữ còn có chức năng thẩm mĩ, là phương tiện để tạo nên cái đẹp – hình tượng nghệ thuật.
Đề cao chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ, môn Tiếng Việt trong nhà trường được chú trọng để hướng nhiều vào nội dung dạy ngôn ngữ nghệ thuật, học Tiếng Việt trong các tác phẩm nghệ thuật, học Tiếng Việt để hiểu nghệ thuật văn chương. Do đó, việc dạy cho HS biết sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác là mục tiêu vô cùng quan trọng. Cũng vì thế, Tiếng Việt đã trở thành phân môn có vị trí đặc biệt; không chỉ cung cấp những kiến thức, kĩ năng cơ bản để phát triển khả năng giao tiếp, giúp các em hiểu được những giá trị “chân – thiện – mĩ” trong văn học, trong cuộc sống, mà còn trang bị cho các em công cụ thiết yếu để học tốt các môn khoa học khác. Đây chính là lý do vì sao Tiếng Việt là môn học (phân môn) được dạy xuyên suốt từ bậc Tiểu học đến THPT.
Tích hợp là một phương pháp dạy học được quan tâm nhiều trong dạy học môn Ngữ văn hiện nay Thế kỉ XXI là thế kỉ của khoa học kĩ thuật, của sự bùng nổ tri thức, thế kỉ của những con người năng động, sáng tạo và tự chủ. Để hội nhập với xu thế phát triển chung của thế giới, xã hội Việt Nam cần có một sự thay đổi căn bản, toàn diện về rất nhiều lĩnh vực trong đời sống, trong đó chủ yếu là những 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thay đổi trong giáo dục. Bởi phát triển giáo dục chính là chiến lược phát triển đất nước: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Đổi mới giáo dục chính là cách nhanh nhất rút ngắn khoảng cách vươn tới mục tiêu nêu trên.
Để có một cuộc cải cách giáo dục toàn diện, cần thay đổi căn bản từ nội dung chương trình đến phương pháp giảng dạy. Vì một khi nội dung chương trình giáo dục có sự thay đổi sẽ kéo theo nhu cầu cấp thiết đổi mới phương pháp dạy học. Từ năm học 2006 – 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai đại trà chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 mới trên toàn quốc. Đó là việc thay đổi tên gọi môn Văn - Tiếng Việt thành môn Ngữ văn, thay đổi trong cách xác định mục tiêu môn học, trong quan điểm lựa chọn nội dung, kết cấu chương trình, trong việc vận dụng các phương pháp và phương tiện dạy học để đạt được mục tiêu giáo dục.
Trước đây, ba phân môn: Văn học, Tiếng Việt, Làm văn tách biệt nhau, không gắn bó với nhau trong một chỉnh thể, nhưng với việc biên soạn chương trình mới theo tinh thần tích hợp thì ba phân môn được hợp lại thành một môn chung, mỗi phân môn là một phần của môn Ngữ văn. Những kiến thức kĩ năng của ba phân môn Đọc văn, Tiếng Việt, Làm văn được triển khai đồng thời cho mỗi bài học, theo mối quan hệ đồng quy, nhằm thực hiện mục tiêu cao nhất của chương trình là giúp cho HS từng bước nâng cao và hoàn thiện năng lực đọc - hiểu văn bản và viết các loại văn bản theo phương thức biểu đạt một cách tích cực, chủ động. Cơ sở của việc tích hợp này là lấy Tiếng Việt làm nền tảng của Đọc văn và Làm văn, Làm văn là thực hành của Tiếng Việt, còn Đọc văn là tinh hoa của Tiếng Việt do các bậc thầy văn chương thực hiện. Bởi môn Ngữ văn là một môn học tích hợp giữa ngôn ngữ với văn tự (chữ viết), ngôn ngữ với văn bản, ngôn ngữ với văn hóa, ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết.
Về bản chất, đối tượng của Đọc văn là các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ của dân tộc và nhân loại từ cổ chí kim, còn đối tượng của Tiếng Việt là hệ thống ngôn ngữ, quy luật hành chức. Nên học Đọc văn, HS thấy được vẻ đẹp của ngôn ngữ vì thực chất công việc phân tích 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các hình tượng văn học là công việc đi từ nghệ thuật ngôn từ mà khám phá ra vẻ đẹp, ý nghĩa các hình tượng văn học. Từ đó, yêu văn chương, các em càng yêu Tiếng Việt. Và thông qua đó, giúp người học rèn luyện, trau dồi được các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho cuộc sống.
Như vậy, chương trình và SGK Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận lợi cũng như đặt ra đòi hỏi GV phải dạy ba phần của môn Ngữ văn như một thể thống nhất. Trong đó mỗi phần vừa giữ bản sắc riêng, vừa hoà nhập với nhau cùng hình thành các tri thức, kĩ năng Ngữ văn ở HS. Để làm được điều đó một cách có hiệu quả thì việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học là một yêu cầu tất yếu. Việc dạy học theo hướng tích hợp trong nhà trường phổ thông hiện nay còn nhiều bất cập Đã nhiều năm, qua thực tế dạy học vẫn tồn tại một khuyết điểm khó khắc phục, đó là tình trạng GV dạy bài nào soạn bài đó và chỉ biết bài đó.
Kế hoạch soạn bài theo toàn chương, theo học kì đã được đặt ra từ nhiều thập kỉ trước nhưng cho đến nay nhược điểm đó ở nhiều GV hầu như vẫn chưa được khắc phục. Vì vậy, hầu hết mỗi bài học đều bị tách rời khỏi hệ thống, dạy một bài Tiếng Việt nhưng không chú ý đến sự liên thông với các kiến thức Tiếng Việt cùng hệ thống và những bộ phận liên quan như Đọc văn, Làm văn. Hậu quả của lối giảng dạy này là không những không giúp HS nắm vững kiến thức cụ thể đang học và kiến thức hệ thống không được sâu chuỗi, liên kết với nhau mà còn làm hạn chế khả năng tư duy tổng hợp kiến thức của HS, khiến HS có tâm lý chán học. Lối dạy học manh mún đó còn phương hại đến việc rèn luyện tư duy khái quát, tư duy hệ thống - vốn là những năng lực quan trọng cần thiết cho HS THPT.
Thực tế quan sát được từ các nhà trường phổ thông, việc đổi mới phương pháp dạy học đối với tất cả các môn học, đặc biệt trong môn Ngữ Văn còn rất nhiều hạn chế. Chương trình Ngữ văn 10 đã đưa ra định hướng về đổi mới phương pháp và hình thức dạy học theo tinh thần tích hợp, nhưng những 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu cụ thể về dạy học theo quan điểm tích hợp, một đặc thù của bộ môn lại chưa được triển khai một cách thoả đáng. Đối với phân môn Tiếng Việt nói riêng, phương pháp dạy học Tiếng Việt yêu cầu vận dụng nguyên tích hợp phải lấy khâu đọc - hiểu và thực hành Làm văn làm hai trục tích hợp chủ yếu, phải xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa cung cấp tri thức lí thuyết với rèn luyện kĩ năng và bồi dưỡng năng lực Tiếng Việt cho HS, không dạy học quá nhiều các tri thức hàn lâm nhưng cũng không dạy học theo kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa. Nhưng trên thực tế thì hầu hết các GV đều dạy nhiều về lý thuyết hàn lâm mà ít cho HS đi vào thực hành.
Việc khai thác các dữ liệu qua phần Đọc văn còn rất hạn chế, HS chưa có điều kiện để tự mình huy động hết vốn kiến thức vào vận dụng làm các bài tập… Trước tình hình thực tế đó, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp nói chung và trong phân môn Tiếng Việt nói riêng đang trở thành vấn đề vô cùng bức thiết. Làm sao để nâng cao chất lượng giáo dục nước nhà, đáp ứng mục tiêu của nền giáo dục hiện đại là một câu hỏi lớn không chỉ với các nhà hoạch định đường lối, chính sách giáo dục mà cần được lưu tâm bởi tất cả các nhà giáo đang trực tiếp làm công tác giảng dạy, giáo dục HS. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên cùng điều kiện nghiên cứu của bản thân đã gợi cho người viết ý tưởng lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tích hợp kiến thức Ngữ Văn trong dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10 - tập 2)” làm luận văn thạc sỹ. Trên cơ sở đó, chúng tôi cũng mong muốn có những đóng góp phần nào trong việc định hướng triển khai thực hiện giảng dạy một bài Tiếng Việt nói chung theo hướng tích hợp trong chương trình THPT.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong mỗi chúng ta, ai cũng hiểu được rằng cuộc sống là muôn hình muôn vẻ, nó được coi là bộ đại bách khoa toàn thư về kinh nghiệm và phương pháp. Vì mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng là những tình 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com huống tích hợp. Không thể giải quyết một vấn đề và nhiệm vụ nào của lí luận và thực tiễn mà lại không sử dụng tổng hợp các kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đa ngành của nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy có thể nói rằng, tư tưởng tích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống.
Trong lịch sử phát triển khoa học của nhân loại, các lĩnh vực khoa học ngày càng phân hoá thì tính tích hợp lại càng chặt chẽ. Do vậy, sang thế kỷ XX đã xuất nhiện nhiều khoa học liên ngành, đa ngành. Các khoa học đã chuyển từ tiếp cận “phân tích - cấu trúc” sang tiếp cận “tổng hợp - hệ thống”. Sự thống nhất của tư duy phân tích và tổng hợp đều cần thiết cho sự phát triển nhận thức, đem lại cách nhận thức biện chứng về mối quan hệ giữa bộ phận với toàn thể.
Việc giảng dạy các khoa học trong nhà trường vì thế cũng phải phản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học, không thể cứ tiếp tục giảng dạy các khoa học như những lĩnh vực tri thức riêng rẽ.