MỞ ĐẦU Già hóa dân số là hiện tƣợng mang tính chất tòa cầu, số lƣợng ngƣời cao tuổi (NCT) trên thế giới gia tăng nhanh ở hầu hết các quốc gia và khu vực trên thế giới. Từ năm 2000 đến năm 2050, theo dự báo số lƣợng ngƣời ≥ 60 tuổi sẽ tăng gấp đôi từ 11% lên 22%. Số NCT sẽ tăng từ 900 triệu vào năm 2015 lên 1400 triệu ngƣời vào năm 2030 và 2100 triệu ngƣời vào năm 2050. Vào năm 2050, số lƣợng NCT ở châu Âu sẽ chiếm 34% dân số, trong khi đó Châu Mỹ La Tinh và Châu Á thì số lƣợng NCT chiếm 25% dân số [109].
Việt Nam cũng không ngoại lệ, theo kết quả điều tra về biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình, số lƣợng ngƣời ≥ 60 tuổi ở Việt Nam vào năm 2011 là 8,65 triệu ngƣời, chiếm 10% dân số. Với số liệu này, Việt Nam đã chính thức bƣớc vào giai đoạn già hóa dân số [15]. Già hóa dân số làm thay đổi mô hình bệnh tật ở NCT, chuyển sang các bệnh lý mạn tính không lây trong đó có bệnh lý sa sút trí tuệ (SSTT). SSTT là bệnh lý đặc trƣng cho sự thoái hóa thần kinh ở NCT.
SSTT có nhiều nguyên nhân, trong đó một số nguyên nhân chính là bệnh Alzheimer, SSTT mạch máu, bệnh thoái hóa thùy trƣớc trán và SSTT thể Lewy (LBD) [56]. SSTT là một gánh nặng ở trong công tác chăm sóc và điều trị sức khỏe NCT bởi vì tỉ lệ mắc SSTT tăng gấp đôi mỗi năm 5 năm sau 60 tuổi [90]. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới, năm 2015 có khoảng 47 triệu ngƣời mắc SSTT trên toàn thế giới, con số này dự đoán sẽ tăng lên 75 triệu ngƣời vào năm 2030 và sẽ đạt 132 triệu vào năm 2050. Ƣớc tính rằng cứ mỗi năm có 9,9 triệu ngƣời mắc SSTT và cứ 3 giây thì có một ngƣời mắc SSTT trên thế giới [110].
Năm 2010, 58% tất cả những ngƣời SSTT sống ở các nƣớc có thu nhập thấp hoặc trung bình, với tỉ lệ này dự kiến sẽ tăng lên 63% vào năm 2030 và 71% vào năm 2050 [90]. Đây thật sự là một thách thức cho nền y tế của các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Tại Việt Nam, cùng với sự già hóa dân số thì bệnh lý SSTT cũng gia tăng trong thời gian gần đây. Nghiên cứu của tác giả Lê Văn Tuấn tại cộng đồng cho thấy, tỉ lệ.
2 SSTT ở NCT tại cộng đồng chiếm 4,24% dân số [28]. Nghiên cứu của tác giả Trịnh Thị Bích Hà và cộng sự tại phòng khám lão khoa thì tỉ lệ SSTT ở những NCT điều trị ngoại trú là 22,2% [4]. Đồng thời, tỉ lệ SSTT ở những NCT điều trị nội trú cao hơn các đối tƣợng khác, trong nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thanh Thảo và cộng sự thực hiện tại NCT điều trị tại khoa Lão – BV Nhân Dân Gia Định thì tỉ lệ SSTT là 36,3% [22]. Trong các tiêu chuẩn chẩn đoán SSTT thì tiêu chuẩn DSM 5 của Hội tâm thần học Hoa Kỳ đƣa ra đã đƣợc nghiên cứu nhiều trên thế giới và Việt Nam trong thời gian gần đây.
SSTT là một bệnh lý mạn tính không chỉ ảnh hƣởng đến sức khỏe, hạn chế hoạt động chức năng, tử vong đối với bệnh nhân NCT mà nó còn ảnh hƣởng đến sức khỏe và tinh thần của ngƣời chăm sóc bệnh nhân SSTT. Đặc biệt ở NCT với đặc điểm đa bệnh, đa thuốc và sự hiện diện của hội chứng lão hóa nên nếu có thêm bệnh lý SSTT thì gánh nặng của ngƣời chăm sóc bệnh nhân NCT mắc SSTT sẽ tăng lên. Theo báo cáo của Alzheimer’s Disease International năm 2019, khi khảo sát trên đối tƣợng ngƣời chăm sóc bệnh nhân SSTT thì 52% cảm thấy ảnh hƣởng đến sức khỏe, 49% bị ảnh hƣởng đến công việc và 62% bị ảnh hƣởng đến các hoạt động xã hội [32]. Trong nghiên cứu của tác giả Chiêm Thị Ngọc Minh và cộng sự trên đối tƣợng là ngƣời chăm sóc bệnh nhân SSTT tại BV ĐHYD TP HCM thì có đến 67,7% ngƣời chăm sóc cảm thấy căng thẳng và 74,2% ảnh hƣởng đến sức khỏe [11].
Tại Việt Nam, trong thời gian qua bệnh lý SSTT đã đƣợc nghiên cứu khảo sát tỉ lệ, các yếu tố liên quan và kiến thức, gánh nặng và nhu cầu hỗ trợ của ngƣời chăm sóc bệnh nhân cao tuổi mắc SSTT, tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu này tập trung ở các thành phố (TP) lớn nhƣ Hà Nội, TP HCM, các nghiên cứu tại các BV ở tỉnh, tuyến dƣới còn hạn chế. Bệnh viện (BV) Đa khoa khu vực Cai Lậy là bệnh hạng II thuộc miền Tây Nam Bộ, đƣợc giao nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho ngƣời dân khu vực phía tây của tỉnh Tiền Giang, ngoài ra BV thăm khám và điều trị cho ngƣời dân một số huyện lân cận của các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Long An và Đồng Tháp. Tại BV đã có khoa Lão tuy nhiên chƣa có nghiên nào về SSTT ở bệnh nhân. Từ những thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Tỉ lệ sa sút trí tuệ ở bệnh nhân cao tuổi và nhu cầu hỗ trợ của ngƣời chăm sóc tại khoa Lão bệnh viện Đa khoa khu vực Cai Lậy” với 3 câu hỏi: 1.
Tỉ lệ SSTT và suy giảm nhận thức nhẹ ở bệnh nhân cao tuổi theo tiêu chuẩn DSM 5 tại BV Đa khoa khu vực Cai Lậy là bao nhiêu? 2. Những yếu tố nào liên quan đến SSTT ở bệnh nhân cao tuổi? 3. Sự hiểu biết của ngƣời chăm sóc bệnh nhân SSTT về SSTT nhƣ thế nào? Mức độ ảnh hƣởng đến sức khỏe và tinh thần của SSTT đến họ là bao nhiêu? Và ngƣời chăm sóc bệnh nhân SSTT có hay không nhu cầu đƣợc hỗ trợ?. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát Xác định tỉ lệ SSTT ở bệnh nhân cao tuổi và nhu cầu hỗ của ngƣời chăm sóc bệnh nhân tại khoa Lão BV Đa khoa Khu Vực Cai Lậy từ tháng 10 năm 2020 đến tháng 05 năm 2021.
Mục tiêu cụ thể 1. Xác định tỉ lệ SSTT và suy giảm nhận thức nhẹ ở bệnh nhân cao tuổi theo tiêu chuẩn DSM 5. Xác định các yếu tố liên quan đến SSTT ở bệnh nhân cao tuổi 3. Xác định kiến thức về bệnh SSTT, gánh nặng và nhu cầu hỗ trợ của ngƣời chăm sóc bệnh nhân cao tuổi có SSTT.
5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Già hóa dân số và SSTT 1. Già hóa dân số Ở các quốc gia phát triển và Hoa Kỳ thì NCT là những ngƣời ≥ 65 tuổi, còn theo Liên Hiệp Quốc thì NCT là những ngƣời ≥ 60 tuổi. Tại Việt Nam, Pháp lệnh ngƣời cao tuổi số 39/2009/QH12 đƣợc ban hành của Quốc Hội nƣớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì NCT đƣợc quy định là công dân Việt Nam đủ 60 tuổi trở lên [13].
Vào những năm 1950, không có quốc gia nào trên thế giới có tỉ lệ ngƣời ≥ 65 tuổi chiếm quá 11% dân số, tuy nhiên đến năm 2000, tỉ lệ ngƣời 65 tuổi chiếm cao nhất là 18% dân số và con số này dự báo đến năm 2050 là 38%. Đến năm 2050, số lƣợng ngƣời từ 60 tuổi trở lên sẽ nhiều hơn số lƣợng thanh thiếu niên từ 10 – 24 tuổi [92]. Theo tổng điều tra dân số năm 2019, Việt Nam là một trong những quốc gia già hóa nhanh nhất thế giới. Tổng dân số Việt Nam tại thời điểm 01/04/2009 là 85,85 triệu ngƣời, tại thời điểm 01/04/2019 là 96,21 triệu ngƣời.
Trong đó, số lƣợng NCT năm 2009 và 2019 tƣơng ứng là 7,45 triệu ngƣời (chiếm 8,68% dân số) và 11,41 triệu (chiếm 11,86% dân số). Từ 2009 - 2019, tổng dân số tăng 1,14%/năm thì NCT tăng tới 4,35%/năm.1: Phân bố dân số cao tuổi năm 2009 và 2019 ở Việt Nam. Nguồn: Tổng cục thống kê (2021) [26] Theo dự báo, chỉ số già hóa của Việt Nam vào các năm 2029, 2049 và 2069 sẽ tƣơng ứng là 79,0; 131,3; 154,5. Dự báo cho thấy, chỉ số già hóa đạt xấp xỉ 100 vào năm 2036 và tăng nhanh ở những năm sau đó.
Nói cách khác, từ năm 2036 cho tới hết thời kỳ dự báo, dân số cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) sẽ cao hơn dân số trẻ em (0 - 14 tuổi) [26]. Lão hóa não và hệ thống thần kinh Lão hóa là một quá trình sinh bệnh học phức tạp, đặc trƣng bởi sự tích tụ các tổn thƣơng về mặt phân tử và tế bào. Tuổi đƣợc xem là một yếu tố nguy cơ lớn của bệnh ung thƣ, tim mạch và nhóm bệnh về thần kinh, trí nhớ [112].1: Thay đổi về não theo quá trình lão hóa. Nguồn: Halter Jeffrey B (2016) [63].
7 Hình A: Hình ảnh MRI não của 1 nữ giới khỏe mạnh 24 tuổi. Hình B: MRI não của 1 nữ giới lúc 80 tuổi (không SSTT, MMSE=30, APOE ε3/ε3). Não ở NCT bị teo nhiều hơn, rãnh não nhiều hơn, não thất dãn lớn và thay đổi hình dạng do mất mô não. Teo tiểu não cũng là điều đáng chú ý.
Lão hóa não đặc trƣng bởi tình trạng thay đổi đáng kể về phân tử, tế bào, hệ thống nội tiết tố và mạch máu. Các tế bào não đều trải qua quá trình lão hóa bao gồm: sự chết theo chƣơng trình của các tế bào, mất và suy giảm tiếp hợp của các synap thần kinh và tế bào thần kinh đệm. Quá trình thay đổi này là do sự thay đổi của các protein, sự lắng đọng của các chất nhƣ tau and α-synuclein bên trong tế bào thần kinh và amyloid bên ngoài tế bào [63].1: Những thay đổi về cấu trú của não theo quá trình lão hoa Các mảng amyloid Tích tụ β amyloid trong nhu mô não Tế bào hình sao Gia tăng số lƣợng tế bào hình sao đƣợc kích hoạt Tế bào tiểu thần kinh đêm Gia tăng số lƣợng tế bào tiểu thần kinh đệm đƣợc (Microglia) kích hoạt Ti thể Thay đổi hình thái học Đám rối thần kinh Tích tụ phospho-tau bên trong tế bào thần kinh Giảm các noron thần kinh Hình thái noron thần kinh Giảm tế bào tua và tế bào gai, thân tế bào không thay đổi Synapses Giảm số lƣợng và thay đổi về hình thái học Mạch máu Gia tăng quá trình xơ cứng và xơ vữa Thể tích Giảm thể tích chất xám Nguồn: Halter Jeffrey B (2016) [63]. Khái niệm SSTT và suy giảm nhận thức nhẹ 1.