CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU l.Khái niệm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn Thuốc là nhu cầu tất yếu của cuộc sống và có vai trò đ ặc biệt quan tr ọng trong chăm sóc sức khoẻ cộng đổng. Tuy nhiên, thuốc là con dao hai lưỡi, sử dụng thuốc như thế nào luôn là mối quan tâm của tất cả mọi người. Thu ốc ảnh h ưởng trực tiếp đến sức khoẻ, vì vây việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn là h ết s ức c ần thiết. Nhưng thực tế sử dụng thuốc hiện nay còn nhiều điều bất hợp lý.
Việc sản xuất ra nhiều dược phẩm đã giúp cải thiện công tác chăm sóc s ức khoẻ cộng đồng. Vào khoảng những năm 80, chi phí về thuốc trên thế giới khoảng 75 tỷ USD. Năm 1997, thị trường thuốc kháng sinh trên thế giới đạt doanh sô' ước chừng khoảng 18 tỷ USD, trong đó họ betalactam (Penicilin, cephalosporin) chiếm phần lớn. Italia và Pháp là hai nước dân đẩu thế giới về thuốc có kháng sinh chiếm 10% thị trường thuốc.
Nhờ tiến bộ cua khoa học kỹ thu ật, danh m ục thu ốc đ ược thay đổi thường xuyên, tính đến năm 1999 thị trường thuốc có 20.000 ho ạt ch ất chữa bệnh và 100.000 san phẩm thuốc. Những năm 50 của th ế k ỷ này con ng ười mới chỉ biết 3 - 4 kháng sinh (penicillin, streptomycin, chloramphenicol) thì ngày nay có tời hàng trăm kháng sinh đã được sử dụng và hàng nghìn kháng sinh đang nghiên cứu. Cho tới những năm đầu của thập niên 70, mặc dù nền công nghiệp dược thế giới đã phát triển hết sức mạnh mẽ, vẫn có tới 2/3 dân chúng chú y ếu các n ước nghèo, không có đủ thuốc cần cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ. Sự thiếu thuốc là do kinh tế khó khăn, nhưng một phần lại do các nước nghèo không có đủ thông tin để lựa chọn mua được những thuốc thích hợp và hiệu quả, với giá cả hợp lý trong một thị trường thuốc thế giới đa dạng và phong phú.
Từ thực tế đó, Tổ chức y tế thế giới đã lưu ý tới khả nâng hạn chế cúa hệ 5 thống y tế ở các nước nghèo, đặc biệt chi phí về thuốc ở những nước này chiếm một tỷ lệ có ý nghĩa thường từ 20%-40% (thâm chí 60%) ngân sách dành cho y tế. Tổ chức y tế thế giới đã chỉ ra rằng, lý do nguồn lực khan hiếm không giải thích được khoảng cách giữa những gì có thể làm được và những gì đã làm được. Vậy các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, cần dùng thuốc hợp lý hơn để sử dụng nguồn lực tài chính có hiệu quả và cung cấp được đủ thuốc cho nhân dân. [17] Mối quan tâm đến vấn đề này đã dẫn đến một giải pháp của Đại hội đổng Y tế thế giới họp năm 1975.
Trong đó uỷ nhiệm cho Tổ chức Y tê' thê' giới (TCYTTG) “ xây dựng các biện pháp, mà qua đó TCYTTG có thể hỗ trự trực tiếp các n ước thành viên trong việc lựa chọn và mua với giá cả hợp lý những thu ốc thi ết y ếu có ch ất lượng đã được xác định, phù hợp với nhu cầu của mỗi quốc gia”. Năm 1977 TCYTTG đã xây dựng được danh mục các thuốc thiết yếu, và tới năm 1995 TCYTTG đã công bố danh mục thuốc thiết yếu lần thứ 8.Trong khi những nỗ lực này đã giúp nhiều quốc gia vượt qua được tình trạng thiếu thuốc thiết yếu cho đa s ố dân chúng, thì một vấn dề tổn tại và ngày càng trở thành một mối quan tâm lớn, đó là vi ệc dùng thuốc không đúng và không hợp lý như dùng quá nhiều loại thuốc mỗi l ần điều tr ị. sử dụng kháng sinh ở mức độ cao, thích dùng thuốc tiêm, vitamin [26]. Hội nghị Nairobi, Kenya năm 1985 đã định nghĩa về sử dụng hợp lý thuốc như sau: “Sử dụng hợp lý thuốc là việc đảm bảo cho người bệnh nhận dược các thuốc thích hợp với yêu cầu của lâm sàng, liều lượng phù hợp với từng cá thể, trong một thời gian vừa đủ và với giá thành thấp nhất cho mỗi người cũng nh ư cho c ộng đổng của họ”.
Trong y học, thuật ngữ sử dụng thuốc hợp lý bao gồm các tiêu chuẩn sau: -Thuốc đảm bảo chất lượng -Chỉ định thích hợp, hay lý do kê đơn là dựa vào các khám xét y học đúng đắn 6 - Thuốc thích hợp, chú ý tới hiệu lực tính an toàn, tính tiện lọi cho người bệnh và giá cả hợp lý - Liều lượng, đường dùng và thời gian dùng thích hợp - Người bệnh thích hợp hay là việc không có các chống chi đ ịnh và tiên s ử v ề các tai biến do thuốc là không đáng kể. -Phân phối (bán , phát) đúng, bao gồm cả việc cung cấp các thông tin thích hợp về các thuốc đã kê đơn cho ngươi bệnh. - Người bệnh tuân thủ điều trị. Tình hình tự mua thuốc, tự điều trị Theo nguyên tắc khi một người bị bệnh phải đến khám bác sĩ, bác sì khám, kê đơn, người bệnh mua thuốc và sử dụng theo đúng đơn của bác sĩ.
Nh ưng t ự mua thuốc, tự diều trị là một nét đặc trưng trong chăm sóc sức kho ẻ dã có t ừ nhi ều năm nay. Ngày nay, dân chúng được thông tin tốt hơn trước kia, muốn có nhiều thông tin tír các chuyên gia để giúp họ có những quyết định h ợp lý trong chăm sóc s ức kho ẻ. Nghiên cứu người tiêu dùng cho thấy người dân công nhận dược sỹ là ngu ồn h ợp thức cung cấp thông tin và lời khuyên về thuốc. Dược sỹ là ng ười t ư v ấn cho công chúng về việc chăm sóc sức khoẻ hàng ngày và là nhân v ật ch ủ ch ốt trong cung ứng thuốc.
Việc giáo dục và đào tạo đã trang bị cho họ ki ến th ức đ ể cung c ấp nh ững l ời khuyên về thuốc. Dược sỹ có một vai trò chủ đạo trong việc đưa ra những lời khuyên và thông tin về thuốc để giúp đỡ người dân. [25] Thực tế hiện nay việc tự mua thuốc, tự điều trị là rất phổ biến.Tại Philippine có tới 80% các trường hợp trẻ em có những vấn đề bệnh thông thường (ho, sốt, ỉa chảy.) được cha mẹ tự diều trị. Việc tự dùng kháng sinh theo chỉ định của người bán thuốc là rất thường gặp ở Thái Lan.
Bán thuốc không có đ ơn c ủa th ầy thu ốc là bình thường ở Ân Độ, ở đây kháng sinh được bán không có đơn chi ếm 17,5% các tr ường hợp tự đi mua thuốc và 23% tổng chi phí mua thu ốc. T ại Iran, ng ười dân th ường t ự đến thẳng các nhà thuốc để 7 mua thuốc chữa bệnh cho mình và gia đình, có những trường hợp khá nguy hiểm như đau bụng cũng có tới 50% người bán thuốc chỉ định và bán thuốc cho người mua, còn các tình trạng khác như ỉa chảy, đau họng thì tới 90% được điều trị bởi những người bán thuốc. Ngay ở Hổng Kông, một khu vực phát triển, thì cũng có tới 32,5% người dân ở đây thường tự chữa bệnh. Các kháng sinh, thuốc hạ sốt giảm đau vẫn chủ yếu được người dân tự mua dùng theo lời khuyên của người bán thuốc tại Brazil.
Còn ở Kenya, ngay cả sốt rét cũng được tự điều trị tới 60%. [28] Ở Việt Nam, tự điều trị và điều trị theo chỉ dẫn của người bán thu ốc cũng là rất phổ biến hiện nay. Theo số liệu của tổng cục Thống kê năm 1994, khi ốm đau tỷ lệ người dân đến điều trị bệnh ở y tế nhà nước là 15,05%, đến y tế tư nhân là 19,7% và tự điều trị tới 65,3%. Tại Hà Nội, tỷ lệ người mua thuốc không theo đơn là 83,4%.
Trong số những người mua thuốc không theo đơn có 30,4% người nghĩ rằng có thể hỏi người bán, 37,9% cho rằng dựa vào kinh nghiệm bản thân. Khảo sát 3298 trường hợp mua thuốc trên cả nước thì có tới 76% người mua tự quyết định, chỉ có 24% mua theo đơn hoặc theo hướng dẫn của thầy thuốc. [19] Báo cáo tại hội thảo “Chi phí trong chăm sóc sức khoẻ của hộ gia dinh Vi ệt Nam năm 1995” cho thấy, thực tế việc tự chữa bệnh là cách ứng x ử hi ện chi ếm tru thế trong dân cư (65%), ngay cả với những người giàu có cũng có tới 55% thường tự chữa bệnh. Người dân đang ngày càng có xu hướng muốn tự kiểm soát ph ần l ớn bệnh tạt của mình mà không cán xin ý kiến cúa thày thuốc.
Họ thích sự thuận tiện mà sự có mặt sẵn sàng của dược phẩm dem lại hơn là phải đợi chờ lâu ở phòng khám bệnh hay các cư sở điều trị khác. Việc tự dùng thuốc không dúng ngày càng tăng dẫn đến hâu quả khó lường, làm gia tăng tình trạng kháng thuốc. Tự điều trị làm nổi lên vấn dề sao cho vừa đáp ứng được nhu cầu của người dân mà vẫn đảm bảo được an toàn và hiệu quả. Những thuốc được dùng để tự điều trị cần đảm bảo an toàn, chất lượng 8 và hiệu quả.
Muốn vậy, những sản phẩm thuốc đến tay người sử dụng cần phải được hỗ trợ bởi các thông tin mô tả về: - Cách dùng thuốc - Tác dụng và tác dụng phụ có thể có - Tương tác thuốc có thể xảy ra - Cảnh giác và cảnh báo - Thời gian sử dụng - Khi nào cần tìm đến thầy thuốc. Vai trò của dược sỹ đã thay đổi trong vòng hai thập kỷ qua. Dược sỹ không còn chỉ là nhà cung cấp thuốc và là người pha ch ế thu ốc n ữa, mà còn là m ột thành viên trong nhóm tham gia chăm sóc sức khoẻ, dù ở bệnh viện, nhà thuốc cộng đổng, phòng thí nghiệm, nhà máy sản xuất thuốc hay ở các viện nghiên cứu. Chăm sóc dược khoa đang ngày càng trở nên quan trọng với những thách thức trong tự điều trị.
Đối với các dược sỹ, sự tham gia nhiều hơn c ủa h ọ trong t ự điều trị có nghĩa là trách nhiệm của họ đối với khách hàng cũng lớn hơn và yêu cầu về trách nhiệm cũng cao hơn. Hậu quả của việc sử dụng thuốc không an toàn họp lý Thuốc có vai trò đặc biệt quan trọng trong chăm sóc sức khoẻ con người, lại đang đe doạ tới sự an toàn của con người do chính cách sú d ụng không h ợp lý c ủa chúng ta. Sử dụng thuốc không hợp lý dãn đến những hậu quả sau: - Chất lượng chăm sóc sức khoẻ kém, tỷ lệ bệnh tật và tử vong cao. - Lãng phí các nguồn lực khan hiếm.