Chương I: Một số cơ sở lý luận về công tác quản lý và thu phí vệ sinh môi trường Chương II: Thực trạng công tác quản lý và thu phí vệ sinh môi trường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và thu phí vệ sinh môi trường. CHUONG I - MOT SO CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÔNG TAC QUAN LÝ VÀ THU PHÍ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG 1. Một số khái niệm 1. Phí và lệ phí - Theo Pháp lệnh Phí và lệ phí số 38/2001/PL - UBTVQHI0 ngày 28 tháng 2 năm 2001 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Phí là khoản tiền mà tô chức, cá nhân phải trả khi được một tô chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ (được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Pháp lệnh).
Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước (được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh). - Xét theo khoản thu nộp cho Ngân sách Nhà nước có thê chia làm 2 loại phí: phí thuộc Ngân sách Nhà nước và phí không thuộc Ngân sách Nhà nước Phí thuộc ngân sách nhà nước là khoản thu được từ các dịch vụ được quy định trong Danh mục phí, do Nhà nước đầu tư hoặc do cơ quan nhà nước thực hiện theo thâm quyền do pháp luật quy định. Phí không thuộc ngân sách nhà nước là khoản thu được từ các dịch vụ được quy định trong Danh mục phí, không do Nhà nước đầu tư hoặc do Nhà nước đầu tư nhưng đã chuyên giao cho tô chức, cá nhân thực hiện theo nguyên tắc hạch toán. - Căn cứ vào Nghị định số 24/2006/ND — CP ngày 6 tháng 3 năm 2006 của chính phủ về sử đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2002/ND — CP ngày 3 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy định chỉ tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định đối với một số khoản phí về quản lý đất đai, tài nguyên thiên nhiên; một số khoản phí gắn với chức năng quản lý hành chính Nhà nước của chính quyền địa phương.
Phí môi trường Phí môi trường là khoản thu của Nhà nước nhằm ngăn ngừa xả thải ra môi trường các chất ô nhiễm có thể xử lý được. Đây là một công cụ kinh tế để bảo vệ môi trường nhằm mục đích thay đổi hành vi của người gây ô nhiễm và tăng nguồn thu dé chỉ trả cho các hoạt động cải thiện môi trường. Phí môi trường được tính dựa trên: Lượng chất thải ra môi trường, mức tiêu thụ nguyên liệu gây 6 nhiễm, chi phí để cung cấp và duy trì các dịch vụ môi trường (thu gom, vận chuyên và xử lý chất thải). Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn thông thường và chat thải rắn nguy hại được quy định trong Nghị định 174/2007/ND — CP ngày 29 tháng 11 năm 2007 về phí bảo vệ môi trường đối với chat thải ran.
Phân loại phí môi trường gồm có: phí chất thải, phí thu gom chất thải, phí ô nhiễm, phí người sử dụng. Trong chuyên đề này chỉ đề cập đến phí vệ sinh (thuộc phí người sử dụng) — một công cụ kinh tế quan trọng trong công tác quản lý chất thải rắn đô thị. Phí người sử dung được chia làm 2 loại: Phí người sử dụng có tỷ lệ thay đổi được (dựa trên tỷ lệ chat thai) và phí người sử dụng cố định (dựa trên số hộ gia đình). Đối với những hộ gia đình có thu nhập cao, sự tăng hay giảm mức phí này không quạn trọng do đó khó có thê làm thay đổi hành vi của họ.
Nhưng đối với những hộ gia đình có thu nhập thấp, việc sử dụng phí người sử dụng (cụ thể là phí vệ sinh môi trường) sẽ góp phần giảm thiểu các hành vi làm phát sinh chất thải và khuyến khích việc tái chế. Tuy nhiên, cũng có một tác động ngược là tạo hành vi đồ thải bất hợp pháp đề tránh việc phải nộp phí. Phí người sử dụng trả cho các hoạt động thu gom, vận chuyên và xử lý chất thải thường là mức thấp và nguồn thu được chỉ hỗ trợ được một phan trong lĩnh vực này. Trên lý thuyết, mức phí có thể giảm hơn nữa nếu chủ nguồn phát thải có thể chứng minh là gánh nặng môi trường họ gây ra thấp hơn mức phí đó.
Trên thực tế điều này là không thê, khi dân số đô thị ngày càng gia tăng, sự phát triển của nền kinh tế kéo theo sự gia tăng của chất thải rắn đô thị theo từng ngày; hơn nữa phí vệ sinh được coi là khoản phải trả khi sử dụng dịch vụ vệ sinh môi trường, không được xem là công cụ kích thích người dân giảm hành vi xả thải. Phí vệ sinh môi trường - Phí vệ sinh môi trường là khoản phí trả cho việc thu gom và xử lý rác thải đô thị, là công cụ kinh tế được sử dụng ở khu vực đô thị. - Theo thông tư số 02/2014/TT — BTC ngày 2 tháng 1 năm 2014 của Bộ tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí: + Tại điều 6 khoản 1: Phí vệ sinh môi trường nằm trong danh mục các khoản phí thuộc thâm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (thành phố trực thuộc trung wong).4 khoản 2 điều 3: Phí vệ sinh môi trường là khoản thu nhằm bù đắp một phan hoặc toàn bộ chi phí đầu tư cho hoạt động thu gom và vận chuyên rác thải trên địa bàn địa phương, như chi phí cho tô chức hoạt động của đơn vị thu gom, vận chuyền, chi phí quản lý,. - Phí vệ sinh là khoản phí mang tính bắt buộc đối với người dân ở khu vực đô thị, những người trực tiếp sử dụng dịch vụ vệ sinh môi trường, và nó thể hiện nguyên tắc người được lợi phải trả tiền (BPP).
Nguyên tắc này có nghĩa những người được hưởng lợi do có được môi trường không bị ô nhiễm thì đều phải nộp phí. Nguyên tắc nayf chủ trương việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện môi trươngfg cần được hỗ trợ từ phía những nguofi muốn thay đổi; hoặc những ngườïi không phải trả giá cho các chất thai gây ô nhiễm môi trường. Trong quản lý chất thải răn sinh hoạt ở đô thị, phí vệ sinh môi trường được thu trên đầu người hoặc thu trên khối lượng rác thải, nó thể hiện nguyên tắc BPP ở chỗ người dân đô thị, những người không phải trả giá cho chất thải sinh hoạt hàng ngày mà họ thai ra, họ chỉ phải trả một khoản phí thấp dé được hưởng một loại hình dịch vụ thu gom, vận chuyển va xử lý rac thải do cơ quan chuyêen trách thực hiện. Đặc điểm của Phí vệ sinh môi trường 1.
Đặc điểm - Ly do thu phí: Bu đắp phan chi phí thu gom và chi phí quản lý khi cung cấp dịch vụ vệ sinh môi trường. Tuy nhiên, thực tế khoản thu từ phí vệ sinh môi trường chỉ mới đáp ứng được 20% tông chi phi dé thực hiện và duy trì công tác vệ sinh, phần lớn còn lại vẫn phải dựa vào sự hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nước. - Chủ thê ban hành: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (thành phố) - Tính lợi ích: Liên quan trực tiếp đến lợi ích người nộp. Xét một cách khách quan, mức phí vệ sinh môi trường càng tăng thì chất lượng phục vụ vệ sinh trên địa bàn sẽ được cải thiện hơn.
- Tính ổn định: Mức phí vệ sinh có thé thay đổi theo thời gian và khác nhau ở từng địa phương, tùy vào điều kiện và tình hình cụ thể của địa phương nơi phát sinh hoạt động thu phí (như tình hình kinh tế, đặc điểm hoạt động của các đơn vị thu phí, các cơ quan có thâm quyền, khả năng chị trả của người dan,.) - Chủ thé có quyền thu phí: Các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (ví dụ: Hạt giao thông, Phòng kinh tế và hạ tầng, Đội quản lý công trình và vệ sinh môi trường do UBND huyện quản lý,.); Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vệ sinh môi trường được cơ quan chức năng có thâm quyền giao nhiệm vụ thu phí vệ sinh trên địa bàn quản lý (ví dụ Công ty URENCO được UBND thành phố Hà Nội giao nhiệm vụ thu phí trên địa bàn 4 quận Ba Dinh, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và Đống Da). TẦm quan trọng của việc áp dụng công cụ phí vệ sinh môi trường vào công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt Phí vệ sinh môi trường là một công cụ kinh tế có tầm quan trọng lớn và nếu được áp dụng hiệu quả có thê mang lại nhiều lợi ích về mặt xã hội và cả phát triển kinh tế. - Đối với nền kinh tế: Việc có thêm một khoản thu từ các cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh, các tổ chức. làm giảm một phần gánh nặng chi phí cho Ngân sách Nhà nước đồng thời tăng đóng góp của người dân trong công tác duy trì vệ sinh môi trường.
Đầu tư cho lĩnh vực môi trường cần một khoản rất lớn, kết hợp với tình hình kinh tế hiện nay của nước ta là kinh tế thị trường, việc thu phí dé huy động nguồn vốn từ xã hội là điều rất cần thiết. Phí vệ sinh được tính vào doanh thu của doanh nghiệp dé trang trai chi phi trong viéc cung cấp các dịch vụ môi trường do đó sẽ giảm việc phụ thuộc vào Ngân sách Nha nước. - Đối với xã hội: Thông thường theo nguyên tắc thị trường người sử dụng phải trả tiền cho người cung cấp dịch vụ, nhưng các dịch vụ liên quan đến chất thải rắn không chỉ tạo lợi ích về mặt kinh tế mà còn đem lại lợi ích về mặt xã hội. Việc thu phí cũng góp phần tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội, đó là các công ty vệ sinh môi trường với những đội ngũ thu ngân viên thực hiện công tác thu phí, các cán bộ chuyên quản quản lý,.
Trước tình hình thất nghiệp đang là vấn đề nan giải của xã hội, tạo được việc làm tăng thu nhập cho người dân có thể góp phần giúp họ cải thiện đời sống. Việc đóng khoản phí cho dịch vụ vệ sinh môi trường tạo điều kiện cho người dân có thé đóng góp một phan vào việc bảo vệ môi trường, nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường hơn. Việc nộp phí cũng thê hiện tính công bằng xã hội, tuy nhiên cũng có những trường hợp không sẵn lòng chi trả khoản phí này va xả thải ra môi trường một cách bừa bãi.