Luận văn thạc sĩ về quản lý môi trường: Truyền thông biến đổi khí hậu tại Bà Rịa - Vũng Tàu

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xây dựng hoạt động truyền thông về biến đổi khí hậu tại Bà Rịa - Vũng Tàu, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng.

Chuyên ngành

Quản lý môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2014

89
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về biến đổi khí hậu tại Bà Rịa Vũng Tàu

Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong những tỉnh ven biển của Việt Nam, chịu ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu. Tình trạng nước biển dângtác động của biến đổi khí hậu đã gây ra nhiều thách thức cho sự phát triển bền vững của khu vực. Theo báo cáo, tỉnh này đang đối mặt với nguy cơ thiệt hại lớn về kinh tế, xã hội và môi trường. Các hiện tượng như bão lũ, hạn hán, và xâm nhập mặn đang gia tăng, đe dọa đến cuộc sống của người dân và các hoạt động kinh tế địa phương. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức cộng đồng về biến đổi khí hậu trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

1.1 Tình hình nhận thức cộng đồng về biến đổi khí hậu

Nghiên cứu cho thấy rằng, chỉ có 66,17% người dân nhận thức được rằng biến đổi khí hậu có nguyên nhân từ hoạt động của con người. Đặc biệt, chỉ có 97,71% cán bộ chính quyền địa phương đã nghe nói về biến đổi khí hậu, cho thấy sự thiếu hụt thông tin trong cộng đồng. Việc truyền thông môi trường cần được tăng cường để nâng cao nhận thức về các tác động của biến đổi khí hậu đối với sức khỏe, môi trường và phát triển kinh tế. Hơn nữa, các kênh thông tin như báo chí và truyền hình vẫn là nguồn chính để người dân tiếp cận thông tin về biến đổi khí hậu.

II. Chiến lược truyền thông về biến đổi khí hậu

Để nâng cao nhận thức cộng đồng về biến đổi khí hậu, cần có một chiến lược truyền thông rõ ràng và hiệu quả. Các hoạt động truyền thông nên tập trung vào việc cung cấp thông tin chính xác và kịp thời về tình hình biến đổi khí hậu và các biện pháp ứng phó. Việc tổ chức các chương trình giáo dục và đào tạo cho cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ, là rất quan trọng. Các hoạt động này không chỉ giúp người dân hiểu rõ hơn về biến đổi khí hậu, mà còn khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường.

2.1 Các phương pháp truyền thông hiệu quả

Các phương pháp truyền thông có thể bao gồm việc sử dụng mạng xã hội, tổ chức hội thảo, và phát hành tài liệu giáo dục. Một nghiên cứu cho thấy rằng việc kết hợp các phương pháp truyền thông truyền thống và hiện đại có thể giúp tăng cường hiệu quả của các hoạt động truyền thông. Việc sử dụng hình ảnh và video trong các chiến dịch truyền thông cũng giúp thu hút sự chú ý của cộng đồng và nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu.

III. Tác động của biến đổi khí hậu và biện pháp ứng phó

Tác động của biến đổi khí hậu không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn đến đời sống xã hội và kinh tế của người dân. Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, các hiện tượng như xâm nhập mặn, lũ lụt, và hạn hán đã gây ra thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp. Để giảm thiểu tác động này, cần có các biện pháp ứng phó hiệu quả như cải thiện hệ thống quản lý nước, phát triển các mô hình sản xuất bền vững và tăng cường khả năng thích ứng của cộng đồng.

3.1 Các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu

Các biện pháp ứng phó cần được thực hiện đồng bộ và có sự tham gia của tất cả các bên liên quan. Việc xây dựng các chính sách và chương trình hỗ trợ cho người dân trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu là rất quan trọng. Ngoài ra, cần nâng cao năng lực cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu, đảm bảo rằng các chính sách được thực hiện một cách hiệu quả và bền vững.

05/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN I.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu I.1 Điều kiện tự nhiên BR - VT là một tỉnh miền Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh, mặt còn lại giáp biển Đông. Hình 3: Bản đồ hành chính tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu BR - VT có 07 đơn vị hành chính nằm trên đất liền và 01 đơn vị hành chính hải đảo là huyện Côn Đảo. Địa hình tỉnh có thể chia làm 4 vùng: bán đảo, hải đảo, vùng đồi núi bán trung du và vùng thung lũng đồng bằng ven biển. 8 Tỉnh BR - VT có vị trí địa lý rất đặc biệt, đây chính là cửa ngõ hướng ra biển Đông của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ.

Vị trí này cho phép tỉnh BR - VT hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế biển như: khai thác dầu khí trên biển, khai thác cảng biển và vận tải biển, khai thác và chế biến hải sản, phát triển du lịch nghỉ dưỡng và tắm biển. Ở vị trí này, BR - VT có điều kiện phát triển tất cả các tuyến giao thông đường bộ, đường không, đường thủy, đường sắt và là một địa điểm trung chuyển đi các nơi trong nước và thế giới. Tỉnh BR - VT nằm trong vùng ít có bão và thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa; một năm chia hai mùa rõ rệt. Diện tích rừng của tỉnh không lớn: đất lâm nghiệp là 33.312,15 ha, trong đó đất hiện đang có rừng là 26.305,55 ha đất lâm nghiệp chưa có rừng.

Rừng của BR - VT chỉ có tầm quan trọng trong tạo cảnh quan, môi trường, phòng hộ và phát triển du lịch, còn việc khai thác rừng lấy gỗ, nguyên liệu không lớn. BR - VT có nhiều loại khoáng sản, nhưng đáng kể nhất là dầu mỏ, khí thiên nhiên và khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Các nguồn nước ngầm có thể cho phép khai thác tối đa 500.000 m3/ngày đêm, bảo đảm cung cấp đủ nước cho nông nghiệp, công nghiệp và cho sinh hoạt. BR - VT có bờ biển dài 305,4 km, trong đó khoảng 70 km có bãi cát thoai thoải, nước xanh, có thể dùng làm bãi tắm quanh năm.

Vịnh Gành Rái rộng khoảng 50 km2 có thể xây dựng một hệ thống cảng hàng hải. Trữ lượng hải sản có thể khai thác tối đa hàng năm từ 150. Tài nguyên biển của BR - VT rất thuận lợi cho phát triển vận tải biển, hệ thống cảng, du lịch và công nghiệp khai thác, chế biến hải sản.2 Đặc điểm kinh tế BR - VT là tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, hệ thống giao thông có ý nghĩa rất quan trọng để thông thương và kết nối với các tỉnh trong khu vực và quốc tế.000km đường giao thông, trong đó có 130km đường quốc lộ, hơn 110km đường giao thông thủy với nhiều con sông lớn, nhỏ như: sông Dinh, Thị Vải, Cửa Lấp, Chà Và… cùng 35 bến cảng như Cái Mép, khu cảng Vũng Tàu, cảng Phú Mỹ…Tỉnh cũng có 2 sân bay nhỏ là: sân bay Vũng Tàu (tại TP. Vũng Tàu) và sân bay Cỏ Ống (tại huyện Côn Đảo), chủ yếu phục vụ cho quân sự và dịch vụ dầu khí.

Hiện nay sân bay Cỏ Ống đang được nâng cấp; giai đoạn 2011 – 2020 tiến hành xây dựng sân bay mới tại Gò 9 Găng (TP. Vũng Tàu) để phục vụ cho nhu cầu dân dụng. Tỉnh đang nghiên cứu xây dựng tuyến đường sắt Biên Hòa – Vũng Tàu. Kinh tế thủy sản là một trong những ngành đi đầu trong việc phát triển kinh tế biển của tỉnh BR – VT, ngành có khả năng cạnh tranh, phát triển ổn định, bền vững.

Tính đến năm 2012, toàn tỉnh có khoảng 7.064,3 ha nuôi trồng các loại thủy sản: tôm, cua, cá và một số loại thủy sản khác như: nghêu, sò, ốc… tập trung tại Long Sơn (TP. Vũng Tàu); Long Hương (TP. Bà Rịa); Lộc An, Láng Dài (huyện Đất Đỏ); Phước Thuận (huyện Xuyên Mộc) và vùng hạ lưu sông Thị Vải, hạ lưu sông Dinh và hạ lưu sông Ray và giáp theo cửa sông (Niên giám thống kê tỉnh BR-VT năm 2012). Diện tích đất nông nghiệp của tỉnh BR – VT khoảng 146.164,29 ha, chiếm 73,47% diện tích đất tự nhiên, dân số nông thôn 522.303 người, chiếm tới 50,15% dân số toàn tỉnh.

Ngành trồng trọt phát triển nhanh, từ năm 1991 đến nay, tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành nông nghiệp tỉnh đạt 7,1%/năm, vượt 1,3% so với chỉ tiêu và đã có xu hướng đa dạng hóa cây trồng, tuy nhiên mức độ đa dạng hóa cây trồng còn chậm, cây công nghiệp lâu năm vẫn chiếm chủ yếu. Nông nghiệp trong những năm qua đã phát triển khá nhanh và toàn diện, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế địa phương của toàn tỉnh. Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2012 đạt 9. Cơ cấu cây trồng có sự thay đổi đáng kể, diện tích cây hàng năm giảm và cây lâu năm tăng, đặc biệt là sản lượng cây tiêu tăng từ 9.359 tấn (năm 2010) lên đến 12.

Hàng năm BR – VT thu hút một lượng lớn khách du lịch đến tham quan và nghỉ ngơi, đây chính là điều kiện tốt để phát triển các ngành nghề dịch vụ phục vụ nhu cầu của du khách như khách sạn, nhà hàng, giải trí. Doanh thu du lịch theo giá hiện hành phân theo thành phần kinh tế đạt 1,141 tỷ đồng năm 2012 (Niên giám thống kê tỉnh BR-VT năm 2012). Ngành thương mại - dịch vụ của tỉnh cũng phát triển mạnh trong những năm qua, trong đó nổi bật nhất là du lịch và dịch vụ cảng biển. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 52 dự án cảng biển, đã hoàn thành và đưa vào khai thác 24 cảng, trong đó có các cảng lớn và hiện đại như: CMIT, SP-PSA, SITV, Tân Cảng - Cái Mép…; 27 cảng đang trong quá trình xây dựng và 1 cảng tiếp tục đầu tư với quy mô lớn (Cái Mép hạ) cùng với trung tâm logistics.

10 So với các KCN của những địa phương khác trong khu vực, các KCN của Bà Rịa - Vũng Tàu có nhiều lợi thế so sánh về các điều kiện thu hút nhà đầu tư như: nằm cạnh trung tâm công nghiệp lớn TP. Hồ Chí Minh (cách hơn 100 km); hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy thuận tiện, trong đó sông Thị Vải có chiều dài hơn 10km, nhiều bến cảng được thành lập ven sông có khả năng tiếp nhận tàu hàng tải trọng đến 6 vạn tấn. Nguồn năng lượng cung ứng cho hoạt động các cơ sở sản xuất trong KCN dồi dào, chủ yếu là nguồn nhiệt điện của các nhà máy điện Phú Mỹ I, II, III, Bà Rịa… Trong năm 2012, tổng giá trị sản xuất công nghiệp đạt 409. Tỉnh BR - VT hiện có 10 khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động gồm: Đông Xuyên, Phú Mỹ I, Mỹ Xuân A, Mỹ Xuân A2, Mỹ Xuân B1, Mỹ Xuân B1 Đại Dương, Mỹ Xuân B1 Tiến Hùng, Cái Mép, Phú Mỹ II, Phú Mỹ III.

Và 5 KCN đã có chủ trương thành lập gồm: KCN Đô thị Châu Đức, Long Sơn, Long Hương, Phú Mỹ II mở rộng và KCN Đất Đỏ 1. Đến năm 2012, trên địa bàn tỉnh có 295 dự án nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 28,1 tỷ USD. Vốn đầu tư thực hiện đến nay đạt gần 6,43 tỷ USD, chiếm 22,9 % trong tổng vốn đăng ký đầu tư. BR - VT có nhiều loại khoáng sản nhưng đáng kể nhất là dầu mỏ, khí thiên nhiên và khoáng sản làm vật liệu xây dựng.

Bể Cửu Long trữ lượng khai thác khoảng 170 triệu tấn dầu và 28 – 41 tỷ m3 khí và có điều kiện khai thác tốt nhất do nằm không xa bờ, trong vùng biển nông (độ sâu đáy <50 m), thuộc khu vực không có bão lớn. Bể Nam Côn Sơn: trong 60 cấu tạo phát hiện, có nhiều cấu tạo đã khoan thăm dò và có dấu hiệu như Dừa, Mùa (lô 8), Đại Hùng, Thanh Long (các lô 05, 11, 12, 06, 04); các mỏ có triển vọng là Đại Hùng, Thanh Long, Lan Tây, Lan Đỏ, Mộc Tinh, Rồng Bay, Mỏ Đại Hùng đã đi vào khai thác từ tháng 10 - 1994, trữ lượng khai thác dao động trong khoảng 30 - 50 triệu tấn dầu và 6 - 10 tỷ m3 khí. Khoáng sản làm vật liệu xây dựng của BR - VT rất đa dạng, bao gồm: đá xây dựng, đá ốp lát, phụ gia xi măng, cát thuỷ tinh, bentonit, sét gạch ngói, cao lanh, cát xây dựng, than bùn, immenit… Hiện nay, tỉnh BR - VT đã xây dựng 19 mỏ với tổng trữ lượng 32 tỷ tấn, phân bố ở hầu khắp các huyện trong tỉnh nhưng chủ yếu ở các huyện Tân Thành, Long Đất, TP. Bà Rịa và TP.

Giá trị kinh tế mang lại cho tỉnh là rất lớn và không ngừng gia tăng hàng năm. Là khu vực có nhiều hệ sinh thái với tính đa dạng sinh học cao mà điển hình là Vườn Quốc gia Côn Đảo, Khu bảo tồn Bình Châu – Phước Bửu… với nhiều loài động vật và 11 thực vật quý hiếm, hệ sinh thái biển của Côn Đảo cũng đa dạng và phong phú với nhiều loài sinh vật biển quý hiếm. Hiện nay, tỉnh BR – VT thành lập những khu Bảo tồn đa dạng sinh học với nhiều dự án và sự tài trợ của Quỹ Môi trường toàn cầu và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc cùng các chuyên gia trong nước. Là địa phương có sự phát triển theo hướng mở rộng khai thác dầu khí, phát triển các ngành CN sử dụng khí nhiên liệu (điện, hóa chất, phân bón, chất dẻo, khí hóa lỏng), các loại công nghiệp dịch vụ cho việc khai thác và vận chuyển dầu khí; bên cạnh đó, phát triển công nghiệp thép, cơ khí điện tử, đóng tàu, vật liệu xây dựng, các sản phẩm từ cao su, chế biến hải sản, thực phẩm.

Các hoạt động công nghiệp đã kéo theo sự phát triển những đô thị mới (Phú Mỹ, Mỹ Xuân, Cái Mép), tạo dựng hệ thống hạ tầng cơ sở và kinh tế du lịch có chất lượng tốt.3 Đặc điểm văn hóa - xã hội Dân cư toàn tỉnh có tổng số là 1.565 người (Niên giám thống kê tỉnh BR-VT 2012), trong đó dân số thành thị chiếm 49,85%, dân số nông thôn chiếm 50,15%, mật độ trung bình: 524 người/km2. Dân cư tập trung cao nhất ở TP. Vũng Tàu, huyện Long Điền, TP. Bà Rịa và đây cũng là các vùng có tốc độ đô thị hóa cao cũng như tập trung các khu công nghiệp của tỉnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề "Luận văn thạc sĩ về quản lý môi trường: Truyền thông biến đổi khí hậu tại Bà Rịa - Vũng Tàu" của tác giả Trần Mai Vân, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Hồng Nhật và PGS.TS Lê Văn Khoa, được thực hiện tại Đại học Bách Khoa - Đại học Quốc Gia TP. HCM vào năm 2014. Bài viết tập trung vào việc nghiên cứu và xây dựng các hoạt động truyền thông về biến đổi khí hậu tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về vấn đề này. Nội dung của luận văn không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình biến đổi khí hậu tại địa phương mà còn đề xuất các giải pháp truyền thông hiệu quả, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng và quản lý, bạn có thể tham khảo các bài viết như Thực Trạng Tự Kỳ Thị và Yếu Tố Liên Quan ở Bệnh Nhân HIV/AIDS Tại Phòng Khám Đông Anh Hà Nội (2017), nơi nêu bật các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến sức khỏe. Ngoài ra, bài viết Thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại huyện Yên Dũng, Bắc Giang cũng cung cấp cái nhìn về các hoạt động chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng, một khía cạnh quan trọng trong quản lý môi trường sống. Cuối cùng, bài viết Thực trạng hoạt động giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại Bệnh viện Quân y 354 và sự hài lòng của người bệnh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và môi trường. Những liên kết này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm nhiều khía cạnh khác nhau của chủ đề này.