CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYET CHUNG VE AP DỤNG CÔNG NGHỆ VÀO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỄM NHÂN THỌ 1. Cơ sở lý thuyết về Bảo hiểm nhân thọ 1. Khái niệm Bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm nhân thọ khi chết đã xuất hiện trên thế giới từ năm 1759. Trong hơn 260 năm phát triển và hoàn thiện, bảo hiểm nhân thọ đã đem đến những giải pháp bảo vệ cho các gia đình trước các rủi ro sức khỏe, thương tật, sinh mạng, đảm bảo tài chính cho gia đình trước các biến có khó lường.
Sau 23 năm phát triển tại Việt Nam, bảo hiểm nhân thọ đã trở nên phô biến và được người dân tin tưởng lựa chọn đề xây dựng kế hoạch tài chính cho bản thân và gia đình. Bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm của các công ty kinh doanh bảo hiểm, được thiết kế với các quyền lợi, điều khoản rõ ràng nhằm bảo vệ người tham gia trước những biến cô sức khỏe hoặc các rủi ro về thân thẻ, tính mạng. Công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả cho người thụ hưởng được chỉ định trước một khoản tiền, khi cái chết của một người được bảo hiểm xảy ra. Ngoài ra, việc tham gia bảo hiểm nhân thọ cũng có thé coi là một hình thức tiết kiệm với mức lãi suất ổn định.
Việc tham gia bảo hiểm nhân thọ được xác lập bằng hợp đồng bảo hiểm giữa người tham gia với công ty bảo hiểm. Hợp đồng này phải đảm bảo các điều kiện theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản pháp luật có liên quan. Theo số liệu của tổ chức y tế thế giới (WHO), nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất tại Việt Nam thuộc 2 nhóm tai nạn và bệnh tật. Trong đó, nguyên nhân tử vong đo đột quy và nhồi máu cơ tỉm cao gấp 7 lần so với tai nạn giao thông.
Trước những nguy cơ về tử vong luôn thường trực, nhiều người đã tìm hiểu đến bảo hiểm nhân thọ để dự phòng tài chính cho bản thân và gia đình. Ý nghĩa của bảo hiểm nhân thọ được coi như “chiếc phao cứu sinh” cho cuộc sống gia đình và người thân khi người trụ cột phải ra đi, giảm thiểu ảnh hưởng tài chính và vẫn đảm bảo được các dự định, ước mơ cho con, tuôi già an nhàn cho bô mẹ. Quyền lợi bảo hiểm khi tử vong là công ty bảo hiểm nhân thọ sẽ thực hiện chi tra số tiền bảo hiểm (thường rất lớn) cho người thụ hưởng hoặc bên mua bảo hiểm khi người được bảo hiểm qua đời do các rủi ro theo đúng quy định trong hợp đồng đã ký kết giữa khách hàng và công ty. Pham vỉ của Bảo hiểm nhân thọ Phạm vi bảo hiểm là phạm vi giới hạn những rủi ro, loại tôn thất và chỉ phí phát sinh mà theo thỏa thuận doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm nếu nó xảy ra.
Trên thực tế đối tượng bảo hiểm có thể bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố rủi ro, tốn thất, chỉ phí dẫn đến không đảm bảo an toàn. Nhưng theo yêu cầu về kỹ thuật và pháp lý, các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phải bồi thường cho đối tượng bảo hiểm trong một vài trường hợp nhất định. Phạm vi bảo hiểm và loại trừ bảo hiểm nhằm xác định những trường hợp nào doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chịu hoặc không phải chịu trách nhiệm bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm. Điều này sẽ hạn chế những tranh chấp xảy ra giữa bên mua bảo hiểm và bên bảo hiểm.
Theo phạm vi bảo hiểm, có 7 loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản: e Bao hiém tron doi: Bảo hiểm trọn đời là nghiệp vụ bảo hiểm cho cái chết của người được bảo hiểm diễn ra tại một thời điểm nào đó bất kỳ trong cuộc đời họ. So với các loại hình bảo hiểm nhân thọ khác, bảo hiểm trọn đời cho phép người tham gia bảo hiểm có thể tự do quyết định thời hạn đóng phí, sao cho phù hợp với mong muốn và điều kiện tài chính của mình như 10 năm, 20 năm, hay 30 năm tùy ý. Sau thời gian này, người tham gia không cần đóng phí nữa nhưng vẫn được bảo vệ đến trọn đời. e Bao hiém sinh ky: So với các loại hình bảo hiểm nhân thọ khác, bảo hiểm trọn đời cho phép người tham gia bảo hiểm có thê tự do quyết định thời hạn đóng phí, sao cho phù hợp với mong muốn và điều kiện tài chính của mình như 10 năm, 20 năm, hay 30 năm tùy ý.
Sau thời gian này, người tham gia không cần đóng phí nữa nhưng vẫn được bảo vệ đến trọn đời. e_ Bảo hiểm tử kỳ: Ngược lại với bảo hiểm sinh kỳ là bảo hiểm tử kỳ. Bảo hiểm tử kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho cái chết của người được bảo hiểm diễn ra trong một thời hạn nhất định nào đó. Lúc này, các công ty bảo hiểm phải có nghĩa vụ chỉ trả một khoản tiền cho người được hưởng bảo hiểm theo như thỏa thuận của hợp đồng bảo hiểm.
e_ Bảo hiểm hỗn hợp: Bảo hiểm hỗn hợp là sự kết hợp giữa nghiệp vụ bảo hiểm giữa bảo hiểm sinh kỳ cùng bảo hiểm tử kỳ. Bảo hiểm hỗn hợp đang được xem là sản phẩm chủ lực của nhiều công ty bảo hiểm hiện nay. Chúng được đánh giá là sự tiến bộ và nỗ lực không ngừng nghỉ của các công ty, nhằm mang đến một loại sản phẩm bảo hiểm vừa đảm bảo tối ưu nhất các quyền lợi cho khách hàng. Vừa mang đến một sự đầu tư tiết kiệm mang tính kỷ luật, đầu tư sinh lời một cách an toàn.
e Bao hiém tra tiền định kỳ: Bảo hiểm trả tiền định kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm để trả tiền cho sự sống của người được bảo hiểm, nếu có thể sống đến một thời hạn nào đó. Trong trường hợp này, các công ty bảo hiểm phải có nhiệm vụ trả tiền định kỳ cho người được hưởng bảo hiểm theo đúng thỏa thuận bên trong hợp đồng bảo hiểm. e_ Bảo hiểm liên kết đầu tư: Bảo hiểm liên kết đầu tư là loại bảo hiểm không được chia lãi. Theo đó sau khi đã trừ đi các khoản như chỉ phí để đóng cho các doanh nghiệp bảo hiểm, chỉ phí đề quản lý hợp đồng, phần phí còn lại trong quỹ sẽ được dùng đề đầu tư cho các đơn vị liên kết.
Hiện nay tại thị trường Việt Nam, có 2 sản phẩm tiêu biểu nhất của bảo hiểm liên kết đầu tư mà các công ty bảo hiểm thường triển khai đó là bảo hiểm liên kết đơn vị và bảo hiểm liên kết chung. e_ Bảo hiểm hưu trí: Bảo hiểm hưu trí là nghiệp vụ bảo hiểm để trả tiền cho người được bảo hiểm khi có thé làm việc đến tuổi hết lao động, được quy định theo thỏa thuận bên trong hợp đồng bảo hiểm hưu trí. Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam hiện nay Tính đến 31/12/2022, tổng số hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đang có hiệu lực khoảng 13,92 triệu hợp đồng, tăng 5,45% so với năm 2021, trong đó số hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khai thác mới trong năm 2022 đạt 3,4 triệu hợp đồng (giảm khoảng 4,2% so với số lượng hợp đồng khai thác mới của năm 2021). Tổng phí bảo hiểm nhân thọ đạt 178.269 tỷ đồng, tăng 11,8%, trong đó phí bảo hiểm nhân thọ khai thác mới đạt 50.723 tỷ đồng, tăng khoảng 2,4% so với phí bảo hiểm nhân thọ khai thác mới năm 2021.
Các dòng sản phẩm liên kết đầu tư tiếp tục là các sản phâm chủ đạo mang lại tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm lớn nhất (khoảng 85% phí bảo hiểm nhân thọ), tuy nhiên, khẩu vị lựa chọn đầu tư của khách hàng cũng có những sự thay đổi. Các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư đơn vị (khách hàng chủ động lựa chọn các quỹ đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm theo khâu vị đầu tư của mình) có xu hướng tăng trưởng mạnh, trong khi sản phẩm bảo hiêm liên kết đầu tư chung (khách hàng hưởng kết quả từ hoạt động kinh doanh đầu tư chung của doanh nghiệp bảo hiểm) có xu hướng sụt giảm. Các sản phẩm bảo hiểm sức khỏe của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cũng có sự tăng trưởng tốt, với trên 383 nghìn hợp đồng khai thác mới trong năm 2022, doanh thu phí đạt trên 642 tỷ đồng, tăng trưởng 15,4%. Trong năm 2022, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chỉ trả quyền lợi bảo hiểm tổng cộng khoảng 40.
« Bao hiểm liên kết đầu tư * Bảo hiểm hỗn hợp Bảo hiểm tử kỷ s Bảo hiểm bỗ trợ » Bảo hiểm trọn đời, sinh kỳ, trả tiền định kỳ, sức khỏe (SP chính) Hình 1.1: Tỷ trọng doanh thu phí theo nghiệp vụ bảo hiểm năm 2022 Nguồn: Cục quản lý giám sát bảo hiểm Về thị phần các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường 9 tháng đầu năm 2022, Bảo Việt Nhân Thọ chiếm doanh thu và tỷ trọng lớn nhất thị trường. ManulIfe ở vị trí thứ hai với doanh thu đạt 22.790 tỷ đồng, chiếm 17,94% thị phần. Tiếp đến là Prudential và Dai-ichi Life với doanh thu lần lượt là 21.484 tỷ đồng và 15.694 tỷ đồng, chiếm 16,91% và 12,35% thị phần. AIA Việt Nam giữ vị trí thứ năm với 10,76% thị phần.
= Bao Viét Nhan Tho 2,77%. =| Manulife 2,86%_ š = Prudential 3,18%_ ® Dai-ichi Life = MB Ageas = FWD m Sun Life m Generali m Chubb Life m Khác Hình 1.2: Thị phần doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ 9 tháng đầu năm năm 2022 Nguồn: Số liệu Tổng quan thị trường Bảo hiểm Việt Nam 9 tháng đầu năm 2022 của Hiệp hội Bảo Hiểm Việt Nam 1. Cơ sở lý thuyết chung về áp dụng công nghệ vào hoạt động kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ 1. Khái niệm về Công nghệ Công nghệ là một thuật ngữ xuất phát từ Chữ Hi Lạp là “Techne” mang ý nghĩa nghệ thuật, kĩ năng và “Logia” có nghĩa là khoa học, nghiên cứu.
Tại Việt Nam từng có quan niệm về khái niệm công nghệ rằng: Công nghệ chính là kiến thức, là kết quả của khóa học, ứng dụng có mục đích biến đổi nguồn lực trở thành mục tiêu để sinh lời. Đến ngày nay cách hiểu được cho là phô biến và phù hợp nhất đối với những chính sách quản lý phát triển và quan điểm về công nghệ đã được quy định cụ thê rõ ràng tại Luật khoa học và công nghệ: Công nghệ là một tập hợp của những quy trình kỹ năng, phương pháp, công cụ, bí quyết, phương tiện được sử dụng đề biến đôi nguồn lực thành sản phẩm. Công nghệ bao gồm những thành phần cốt lõi: e_ Kỹ thuật (T) bao gồm các máy móc, thiết bị. Đây là thành phần cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào.