Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng tự sử dụng thuốc không kê đơn đang là vấn đề y tế công cộng mang tính toàn cầu. Theo các báo cáo dịch tễ học quốc tế, tỷ lệ tự sử dụng thuốc dao động từ 2% đến 99% tùy theo từng quốc gia, trong đó tại các nước đang phát triển như Ấn Độ hay Pakistan, hơn 50% người dân thường xuyên sử dụng thuốc mà không có chỉ định từ bác sĩ. Tại Việt Nam, thói quen tự mua thuốc điều trị tại nhà diễn ra phổ biến do mạng lưới bán lẻ dược phẩm phát triển nhanh và nhận thức của người dân về an toàn dùng thuốc còn hạn chế. Điển hình tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, báo cáo y tế năm 2018 đã ghi nhận 01 ca xuất huyết tiêu hóa cùng 03 trường hợp gặp biến chứng dị ứng nặng và kháng kháng sinh xuất phát từ việc tự ý dùng thuốc.

Xuất phát từ thực tế cấp bách đó, đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng của tác giả Nguyễn Chí Đức Anh, dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Thủy tại Trường Đại học Y tế Công cộng, đã được thực hiện nhằm giải quyết hai mục tiêu trọng tâm: Mô tả thực trạng tự sử dụng thuốc tân dược và xác định các yếu tố liên quan đến hành vi này ở người trưởng thành. Nghiên cứu được triển khai trên địa bàn xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trong mốc thời gian từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2019.

Kết quả khảo sát trên 412 người dân địa phương chỉ ra rằng tỷ lệ tự sử dụng thuốc tân dược chiếm 30,3%. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp bộ dữ liệu dịch tễ học thực chứng, giúp các nhà quản lý y tế tại địa phương đánh giá chính xác khoảng trống kiến thức của người dân, từ đó xây dựng các can thiệp giảm thiểu rủi ro biến chứng dược lý và nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết hành vi sức khỏe của Andersen và Newman kết hợp với mô hình niềm tin sức khỏe nhằm phân tích các yếu tố tiền đề, yếu tố hỗ trợ và nhu cầu chăm sóc sức khỏe tác động đến quyết định dùng thuốc của người dân. Đồng thời, nghiên cứu dựa trên các hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới từ hội nghị Nairobi năm 1985 về sử dụng thuốc hợp lý và an toàn, kết hợp với các quy định hiện hành trong Luật Dược năm 2016.

Hệ thống khái niệm cốt lõi được xây dựng chuẩn xác, bao gồm:

  • Thuốc tân dược (thuốc hóa dược): Chế phẩm chứa dược chất đã xác định rõ thành phần, công thức, đạt tiêu chuẩn chất lượng làm thuốc, chiếm hơn 86% tổng nhu cầu sử dụng thuốc trong điều trị so với 13,6% của thuốc cổ truyền.
  • Hành vi tự sử dụng thuốc: Hành động cá nhân tự ý mua, tự điều trị hoặc sử dụng lại thuốc dự trữ sẵn trong tủ thuốc gia đình mà không qua thăm khám hay có đơn thuốc hợp lệ từ bác sĩ.
  • Sử dụng thuốc an toàn, hợp lý: Đảm bảo bệnh nhân được dùng đúng loại thuốc, đúng liều lượng, đúng đường dùng, phù hợp với cơ địa và tối ưu hóa chi phí điều trị.
  • Tác dụng phụ và tương tác thuốc: Các phản ứng bất lợi không mong muốn hoặc sự biến đổi hiệu lực điều trị khi phối hợp nhiều loại dược chất cùng lúc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa phương pháp định lượng và định tính. Quá trình thu thập dữ liệu diễn ra từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2019 trên địa bàn xã Sơn Đồng, một xã đồng bằng trung tâm huyện Hoài Đức có diện tích 5,9 km2 với quy mô dân số 15.178 người thuộc 2.595 hộ gia đình.

Về phương pháp định lượng: Cỡ mẫu được xác định theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với mức ý nghĩa alpha bằng 0,05 và độ chính xác tuyệt đối d bằng 0,05, cho cỡ mẫu lý thuyết tối thiểu là 384 người. Trong thực tế triển khai, nhóm nghiên cứu đã áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách 2.500 hộ gia đình với bước nhảy k bằng 6, tiến hành sàng lọc 456 hộ gia đình để chọn ra 412 người trưởng thành từ đủ 18 tuổi trở lên có sử dụng thuốc trong 3 tháng gần nhất.

Về phương pháp định tính: Nhóm tác giả thực hiện 2 cuộc thảo luận nhóm trọng tâm (mỗi nhóm gồm 6 người đại diện cho nhóm tự dùng thuốc và nhóm dùng thuốc theo đơn) cùng 4 cuộc phỏng vấn sâu các đối tượng mục tiêu gồm người tự điều trị, người tuân thủ đơn thuốc, cán bộ trạm y tế và dược sĩ tư nhân. Dữ liệu định lượng được làm sạch bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích trên nền tảng SPSS 18.0. Các thuật toán kiểm định Chi-square, t-test, ANOVA và mô hình hồi quy logistic đa biến được lựa chọn nhằm kiểm soát các biến số gây nhiễu, xác định tỷ suất chênh điều chỉnh và phân tích mối liên hệ nhân quả giữa các yếu tố môi trường, kinh tế, kiến thức với hành vi tự dùng thuốc. Đề tài đã được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt theo mã số 019-160/DD-YTCC.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 412 đối tượng sử dụng thuốc tân dược ghi nhận tỷ lệ tự sử dụng thuốc chiếm 30,3% (tương ứng 125 người). Trong nhóm đối tượng tự dùng thuốc, tỷ lệ nữ giới chiếm 56,0% (70 người), cao hơn so với nam giới là 44,0% (55 người). Xét theo độ tuổi, nhóm từ 40 đến 60 tuổi chiếm tỷ lệ tự dùng thuốc cao nhất với 48,8%, kế tiếp là nhóm 18 đến 40 tuổi với 41,6%, trong khi nhóm trên 60 tuổi chỉ chiếm 8,8% tổng số người tự dùng thuốc.

Về cơ cấu triệu chứng bệnh và nhóm thuốc sử dụng: Triệu chứng khởi phát dẫn đến hành vi tự dùng thuốc nhiều nhất là sốt với 34,4%, đau bụng chiếm 18,4%, đau đầu chiếm 12,8% và cảm cúm chiếm 8,0%. Xét trên toàn bộ 412 người dùng thuốc, các loại thuốc tân dược được sử dụng nhiều nhất là thuốc hạ sốt chiếm 23,0%, thuốc cảm cúm chiếm 21,0%, kháng sinh chiếm 19,0% và thuốc chống viêm chứa corticoid chiếm 8,0%.

Về kiến thức và thực hành dùng thuốc: Trong 125 đối tượng tự dùng thuốc, chỉ có 15,2% người nhớ được chính xác tên loại thuốc vừa sử dụng, 12,8% biết về tác dụng phụ và 28,8% hiểu về tương tác thuốc. Về mặt thực hành, chỉ 10,4% người thường xuyên đọc kỹ tờ hướng dẫn trước khi dùng và 36,8% khẳng định luôn dùng đúng liều quy định. Có tới 38,4% người tìm hiểu thông tin thuốc qua tham khảo người quen và 37,6% hoàn toàn không tìm hiểu bất kỳ thông tin nào.

Về các yếu tố liên quan: Kết quả mô hình hồi quy logistic đa biến cho thấy người trên 60 tuổi có xu hướng tuân thủ khám và dùng thuốc theo đơn cao gấp 2,19 lần so với nhóm tuổi trẻ (p=0,03). Về yếu tố môi trường, có 62,4% người tự dùng thuốc lựa chọn mua tại quầy dược tư nhân gần nhà. Khoảng cách địa lý tác động trực tiếp đến hành vi: khi khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế tăng thêm 1 km, khả năng người dân tự mua thuốc không theo đơn tăng thêm 8% với tỷ suất chênh OR bằng 1,08 (khoảng tin cậy 95%: 1,00 đến 1,18; p<0,01).

Thảo luận kết quả

Thực trạng 30,3% người dân tự sử dụng thuốc tại xã Sơn Đồng phản ánh thói quen điều trị bệnh phổ biến ở các vùng nông thôn đang đô thị hóa nhanh. Qua phỏng vấn sâu, nguyên nhân hàng đầu khiến người dân tự mua thuốc là do đã từng sử dụng loại thuốc đó nhiều lần trước đây thấy đỡ (chiếm 34,0%), xem bệnh nhẹ không cần đi khám (chiếm 18,0%), nhu cầu xử lý tình huống khẩn cấp (chiếm 13,0%) và do bận rộn công việc không có thời gian chờ đợi tại trạm y tế (chiếm 8,0%).

Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, tỷ lệ tự dùng thuốc tại Sơn Đồng thấp hơn đáng kể so với mức 83,4% tại thành phố Hải Phòng theo khảo sát của tác giả Bùi Tùng Hiệp, và thấp hơn mức 40% đến 60% tại các vùng nông thôn trong nghiên cứu của Junko Okumura. Điều này cho thấy hệ thống y tế cơ sở tại Hoài Đức đã có những bước cải thiện nhất định, tuy nhiên nguy cơ lạm dụng thuốc kháng sinh (19,0%) và corticoid (8,0%) vẫn ở mức đáng báo động.

Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được mô hình hóa sinh động thông qua biểu đồ hình cột phân bố lý do tự mua thuốc và bảng hồi quy logistic đa biến biểu diễn tương quan giữa cự ly di chuyển với nguy cơ tự kê đơn. Việc 62,4% người dân mua thuốc tại quầy tư nhân mà không cần đơn thuốc khẳng định sự lỏng lẻo trong giám sát bán lẻ dược phẩm, tạo điều kiện cho thói quen tự chữa bệnh sai lầm tiếp tục duy trì.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ nhằm kiểm soát hành vi tự sử dụng thuốc tại cộng đồng:

  • Tăng cường kiểm tra, thanh tra định kỳ và đột xuất việc thực hiện quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn tại 100% quầy thuốc tân dược tư nhân trên địa bàn, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ bán kháng sinh không đơn xuống dưới 10% trong vòng 12 tháng, do Phòng Y tế huyện Hoài Đức phối hợp cùng Đội Quản lý thị trường địa phương chủ trì thực hiện.
  • Triển khai chiến dịch truyền thông giáo dục sức khỏe đa kênh qua hệ thống loa truyền thanh xã và các buổi sinh hoạt cộng đồng, phấn đấu nâng tỷ lệ người dân đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc từ 10,4% hiện tại lên trên 50% trước quý 4 năm 2021, do Trạm Y tế xã Sơn Đồng phối hợp với Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên xã đảm trách.
  • Cải tiến quy trình khám chữa bệnh tại trạm y tế cơ sở nhằm rút ngắn thời gian chờ đợi dưới 20 phút cho mỗi lượt khám, nâng cao thái độ phục vụ để tăng tỷ lệ hài lòng của người dân từ 29,6% lên trên 75% trong giai đoạn 2021-2023, do Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Hoài Đức trực tiếp chỉ đạo.
  • Thiết lập mô hình quản lý tủ thuốc gia đình an toàn và tổ chức tập huấn kiến thức nhận biết dấu hiệu nguy hiểm cho ít nhất 80% hộ gia đình trên địa bàn 6 thôn vào năm 2022, do Mạng lưới Nhân viên Y tế thôn bản phối hợp cùng cán bộ chuyên trách dịch tễ trạm y tế triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng hoạt động trong lĩnh vực y tế:

  • Cán bộ quản lý y tế và hoạch định chính sách cấp huyện, xã: Sử dụng các số liệu thực chứng về tỷ lệ tự dùng thuốc 30,3% và tỷ lệ lạm dụng kháng sinh 19,0% để xây dựng các chương trình can thiệp y tế công cộng và siết chặt quy định quản lý hành nghề y dược tư nhân.
  • Dược sĩ và chủ các cơ sở bán lẻ dược phẩm: Tham khảo các phân tích về hành vi khách hàng mua thuốc tại quầy tư nhân (chiếm 62,4%) để hoàn thiện kỹ năng tư vấn dược lâm sàng, cảnh báo nguy cơ tương tác thuốc và tuân thủ đạo đức nghề nghiệp trong việc từ chối bán thuốc kê đơn sai quy định.
  • Bác sĩ và nhân viên y tế tuyến cơ sở: Nắm bắt các rào cản dịch vụ y tế và ảnh hưởng của khoảng cách địa lý (tăng 1 km tăng 8% nguy cơ tự dùng thuốc) để cải tiến quy trình đón tiếp, tích cực tư vấn cách sử dụng thuốc an toàn cho người bệnh ngoại trú.
  • Giảng viên, học viên sau đại học ngành Y tế công cộng và Dược học: Sử dụng công trình như một nghiên cứu điển hình về phương pháp kết hợp định lượng và định tính, quy trình chọn mẫu hệ thống bước nhảy k bằng 6 và kỹ thuật hồi quy logistic đa biến trong phân tích dịch tễ học hành vi.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ tự sử dụng thuốc tân dược tại xã Sơn Đồng là bao nhiêu và tập trung ở nhóm tuổi nào? Tỷ lệ tự sử dụng thuốc tân dược tại địa bàn khảo sát đạt 30,3% trên tổng số 412 người tham gia nghiên cứu. Nhóm tuổi từ 40 đến 60 tuổi có tỷ lệ tự dùng thuốc cao nhất, chiếm 48,8%, tiếp theo là nhóm từ 18 đến 40 tuổi với 41,6%. Người cao tuổi trên 60 tuổi có xu hướng đi khám và tuân thủ đơn thuốc của bác sĩ cao gấp 2,19 lần so với nhóm người trẻ.

Những loại thuốc nào thường bị người dân tự ý mua và sử dụng nhiều nhất? Các loại thuốc tân dược được người dân tự sử dụng phổ biến nhất gồm thuốc hạ sốt chiếm 23,0%, thuốc điều trị cảm cúm chiếm 21,0%, kháng sinh chiếm 19,0% và thuốc chứa corticoid chiếm 8,0%. Tình trạng tự ý sử dụng kháng sinh và corticoid không có chỉ định y khoa gây ra nguy cơ kháng thuốc nghiêm trọng và tổn thương niêm mạc dạ dày trong cộng đồng.

Khoảng cách địa lý từ nhà đến cơ sở y tế ảnh hưởng thế nào đến hành vi tự dùng thuốc? Phân tích hồi quy đa biến khẳng định khoảng cách địa lý là yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với p<0,01. Cứ mỗi khi khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế tăng thêm 1 km, khả năng người dân tự mua thuốc không theo đơn tăng thêm 8% với tỷ suất chênh OR bằng 1,08. Trong đó, nhóm có khoảng cách từ 1 đến 2 km chiếm tới 71,2% tổng số người tự dùng thuốc.

Những lỗ hổng lớn nhất trong kiến thức và thực hành của người tự dùng thuốc là gì? Nghiên cứu ghi nhận 84,8% người tự dùng thuốc không nhớ được tên loại thuốc vừa uống, 87,2% hoàn toàn không biết về tác dụng phụ và 71,2% không hiểu về tương tác thuốc. Trong thực hành, chỉ có 10,4% người đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi uống và chỉ 36,8% thực hiện uống đúng liều lượng chỉ định, trong khi 38,4% mua thuốc dựa vào mách bảo.

Tại sao người dân có xu hướng tự mua thuốc ở quầy tư nhân thay vì đến trạm y tế khám? Có 62,4% đối tượng chọn quầy thuốc tư nhân gần nhà do thủ tục mua bán nhanh chóng, không mất thời gian chờ đợi và có thể tự chọn thuốc theo thói quen cũ chiếm 34,0%. Thêm vào đó, tỷ lệ hài lòng với dịch vụ y tế công lập trong nhóm tự dùng thuốc chỉ đạt 29,6%, khiến người dân ngại tiếp cận quy trình khám chữa bệnh chính thống.

Kết luận

Công trình nghiên cứu đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu đề ra và đúc kết những phát hiện cốt lõi sau:

  • Tỷ lệ tự sử dụng thuốc tân dược tại xã Sơn Đồng năm 2019 ở mức 30,3%, tập trung chủ yếu ở nữ giới (56,0%) và độ tuổi từ 40 đến 60 tuổi (48,8%).
  • Thuốc hạ sốt (23,0%), cảm cúm (21,0%) và kháng sinh (19,0%) là những nhóm dược phẩm bị lạm dụng tự điều trị nhiều nhất khi gặp triệu chứng sốt (34,4%) hoặc đau bụng (18,4%).
  • Hiểu biết về an toàn dược phẩm còn rất hạn chế khi có tới 87,2% người không biết tác dụng phụ và chỉ 10,4% người đọc kỹ hướng dẫn trước khi dùng thuốc.
  • Mạng lưới quầy dược tư nhân (62,4%) và khoảng cách địa lý (khoảng cách tăng 1 km làm tăng 8% nguy cơ) là hai yếu tố thúc đẩy chính đối với hành vi tự điều trị tại nhà.
  • Mô hình nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính cung cấp cơ sở khoa học tin cậy giúp ngành y tế cơ sở hoạch định chính sách can thiệp kịp thời.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã lượng hóa chính xác thực trạng tự dùng thuốc và xác định rõ các yếu tố nguy cơ tại địa bàn nông thôn ngoại thành Hà Nội. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2021 đến 2023, các cấp chính quyền và ngành y tế huyện Hoài Đức cần khẩn trương đưa các khuyến nghị của nghiên cứu vào kế hoạch hành động thực tế. Hãy chung tay nâng cao nhận thức cộng đồng, kiểm soát chặt chẽ việc bán thuốc kê đơn để bảo vệ sức khỏe nhân dân và ngăn chặn hiểm họa kháng thuốc cho thế hệ tương lai.