Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm trong nghiên cứu Chất dạng thuốc phiện: Chất dạng thuốc phiện là tên gọi chung cho nhiều chất như: những chất tự nhiên (nhựa thuốc phiện), chất bán tổng hợp, tổng hợp (morphine, heroin, methadone, buprenorphine, codein, pethidine…) (2). Nghiện chất dạng thuốc phiện: nghiện CDTP bao gồm sự lệ thuộc cả về cơ thể và tâm thần. Sự lệ thuộc tâm thần là cơ sở sinh học gây ra tái nghiện (2).
Cai nghiện: là biện pháp tổng hợp, tác động về nhiều mặt như y tế, pháp luật, giáo dục, đạo đức và một số khía cạnh khác nhằm giúp người nghiện CDTP cắt các hội chứng nghiện, chữa bệnh, phục hồi sức khỏe và tái hòa nhập cộng đồng. Cai nghiện có thể làm xuất hiện hội chứng cai nên người cai nghiện cần phải được điều trị thích hợp (23) Hội chứng cai nghiện CDTP: là phản ứng của cơ thể người nghiện khi cắt hoặc giảm CDTP đang sử dụng. Các triệu chứng bao gồm các vấn đề về thể chất như mệt mõi và các rối loạn về mặt tâm thần như bức rức, trầm cảm. Ngoài ra, còn có các triệu chứng sau: cảm giác thèm ma túy, ngạt mũi/hắt hơi, chảy nước mắt, đau cơ/chuột rút, co cứng bụng, các rối loạn tiêu hóa như buồn nôn hoặc nôn, tiêu chảy, giãn đồng tử, nổi da gà, ớn lạnh, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, ngáp, ngủ không yên (23) Methadone: có tên thương hiệu là Dolophine, đây là một CDTP tổng hợp có tác dụng dược lý giống với các CDTP khác nhưng không gây độc cho hệ thần kinh trung ương, đồng thời cũng không gây ra các khoái cảm, hưng phấn ở liều điều trị.
Methadone có thời gian bán huỷ trung bình là 24 giờ, người đang điều trị methadone thường phải điều trị lâu dài (23). Điều trị duy trì methadone là một liệu pháp thay thế lâu dài cho sự phụ thuộc CDTP. Vì vậy, ngoài những mục đích làm giảm tỉ lệ sử dụng CDTP, giảm lây truyền HIV, HVC, HBV và các bệnh lây truyền qua đường tiêm chích, giảm tỉ lệ tử vong liên quan đến sử dụng CDTP, giảm hoạt động tội phạm thì CLCS cũng là một trong những điểm đầu tiên, quan trọng cần đánh giá trong quá trình hiệu quả điều trị và sức khỏe của người điều trị duy trì methadone. 5 Chất lượng cuộc sống: Theo Tổ chức Y tế thế giới, CLCS là "Nhận thức cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống trong bối cảnh của hệ thống văn hóa và giá trị trong cuộc sống của họ và liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ".
Đó là một khái niệm khác nhau, bị ảnh hưởng trong một cách thức phức tạp bởi sức khỏe thể chất của một người, trạng thái tâm lý, mức độ độc lập, mối quan hệ xã hội, niềm tin cá nhân và mối quan hệ với tính năng nổi bật của môi trường sống (1). Định nghĩa khác theo Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC): “CLCS là một khái niệm đa chiều thường bao gồm các đánh giá chủ quan về cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực của cuộc sống” (24). CLCS mang tính chủ quan cao và bị tác động bởi nhiều yếu tố nên khi đo lường cần lưu ý đến những đặc trưng của CLCS về tính toàn diện, đa khía cạnh. Tổng quan về điều trị methadone 1.
Chương trình điều trị methadone Lợi ích của chương trình điều trị methadone: Nhiều nghiên cứu báo cáo hiệu quả của chương trình điều trị duy trì Methadone rằng: điều trị methadone làm giảm đáng kể việc tiêm chích ma túy, từ đó giảm khả năng lây truyền HIV, vi rút viêm gan C (HCV), vi rút viêm gan B (HBV) và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Điều trị methadone làm giảm hoạt động tội phạm của người lạm dụng CDTP. Methadone có bản chất cũng chỉ là một CDTP, giống như heroin nhưng dùng methadone sẽ an toàn hơn nhiều so với uống heroin, từ đó có thể giúp người đang điều trị methadone thoát khỏi việc sử dụng CDTP và cho họ cơ hội việc làm, hòa nhập cộng đồng sau cai nghiện. Tuy nhiên, nghiện CDTP là một bệnh não mạn tính nên điều trị methadone là điều trị lâu dài (trong nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm) (25).
Nguyên tắc chung: Người nghiện phải tự nguyện đồng ý tham gia điều trị. Thử liều ở liều thấp, tăng từ từ và duy trì liều khi đạt hiệu quả. Thời gian điều trị phụ thuộc vào cơ địa và thời gian sử dụng thuốc của từng người, tối thiểu là 1 năm. Cá nhân tham gia điều trị sẽ được giáo dục, tìm hiểu động lực, mức độ cam kết và sự sẵn sàng tham gia điều trị trước khi bắt đầu điều trị.
Ngoài ra, việc tư vấn, hỗ trợ về tâm lý xã hội cho người 6 đang điều trị methadone cũng giúp hiệu quả tốt hơn. Thông tin của người nghiện là bảo mật, chỉ được cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu hoặc khi được sự đồng ý của người nghiện (23). Tư vấn, tham vấn và hỗ trợ tâm lý xã hội: Tư vấn và bỗ trợ xã hội cho người đang điều trị methadone có vai trò quan trọng giúp người đang điều trị methadone tuân thủ điều trị thuốc, dự phòng tái nghiện, hướng tới xây dựng lối sống lành mạnh, từng bước tái hòa nhập với gia đình và cộng đồng. Có nhiều hình thức hỗ trợ: tư vấn từng cá nhân; tư vấn và giáo dục nhóm; tư vấn cho gia đình người nghiện; xây dựng các nhóm hỗ trợ đồng đẳng cho người nghiện qua mỗi thời kỳ trước, trong và sau điều trị.
Người làm công tác tư vấn, tham vấn phải được đào tạo về kỹ năng tư vấn điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc methadone (23). Quy trình điều trị Người đang điều trị methadone phải tránh dùng các loại CDTP khác như heroin, codein, morphine hoặc thuốc phiện, vì những thuốc này kết hợp với methadone có thể dẫn đến quá liều, có thể gây tử vong. Trong khi điều trị duy trì Methadone, họ cần phải nhận thuốc và uống một lần một ngày vì tác dụng của Methadone chỉ phát huy trong vòng trung bình 24 giờ để không xuất hiên triệu chứng cai. Vì vậy, để điều trị nghiện có hiệu quả với methadone cần phải điều trị duy trì một khoảng thời gian dài (25).
Các giai đoạn điều trị gồm: - Giai đoạn khởi liều (2 tuần đầu): liều khởi đầu phụ thuộc vào kết quả đánh giá độ dung nạp CDTP của người nghiện, thường là 15-30mg. - Giai đoạn dò liều (2 tuần sau khởi liều): cán bộ y tế điều chỉnh liều methadone để phù hợp với từng cá nhân, tuy nhiên phải đảm bảo tổng liều tăng trong 1 tuần không vượt quá 20mg. Cần giám sát người đang điều trị methadone trong 3-6 giờ sau khi uống liều đầu tiên để xem xét tăng liều hoặc xử lý ngộ độc liều. - Giai đoạn điều chỉnh liều: có thể kéo dài từ 1 đến 3 tháng, liều methadone sẽ được điều chỉnh đến khi hết hội chứng cai, giảm cảm giác thèm nhớ, ngăn người đang điều trị methadone tái sử dụng ma túy và không gây ngộ độc.
7 - Giai đoạn điều trị duy trì: liều duy trì là liều có hiệu quả và phong tỏa được những khoái cảm do sử dụng heroin, không còn thèm nhớ heroin, thông thường là 60-120mg/ngày (23). Chương trình điều trị methadone tại TTYT quận Tân Bình hiện nay cũng được áp dụng theo chương trình trên đây. Tình hình triển khai chương trình Methadone tại Việt Nam Chương trình điều trị methadone đã minh chứng cho thấy tính hiệu quả tại Việt Nam sau hơn 10 năm kể từ lúc những người đầu tiên được đưa vào chương trình. Đến năm 2014, báo cáo đánh giá hiệu quả của chương trình thí điểm điều trị nghiện các CDTP bằng methadone tại Hải Phòng và TP.HCM cho thấy tỷ lệ bỏ trị trung bình là 8,3 trường hợp/1.000 người mỗi tháng.
Hầu hết người đang điều trị methadone có tuân thủ điều trị methadone tốt, nên số lượng người sử dụng CDTP bất hợp pháp giảm đáng kể, tần suất tiêm chích heroin của người đang điều trị methadone tái nghiện cũng giảm mạnh, tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm cũng giảm. Người đang điều trị methadone có hoạt động tình dục sau khi sử dụng heroin giảm, tỷ lệ người đang điều trị methadone sử dụng bao cao su tăng. Tình trạng sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của người đang điều trị methadone cải thiện đáng kể, cụ thể là tỷ lệ người đang điều trị methadone gặp tác dụng phụ của methadone và có khả năng từ các điều trị khác (ví dụ ARV và Lao) là 46,3%. Chỉ 4,4% người đang điều trị methadone báo cáo bị lo âu sau hai năm điều trị, tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với báo cáo gần 79% khi bắt đầu uống thuốc.
CLCS của người đang điều trị methadone tăng lên đáng kể, đặc biệt là ở người đã điều trị ở liều duy trì. Người đang điều trị methadone có việc làm tăng lên và duy trì mặc dù có 40% không làm việc toàn thời gian. Công việc của người đang điều trị methadone chủ yếu là buôn bán, phụ giúp việc trong gia đình. Chỉ còn 1,3% người đang điều trị methadone tham gia vào các hoạt động phạm tội, giảm đáng kể so với thời điểm bắt đầu điều trị là 40% (5).
Năm 2015 có 43/63 tỉnh thành triển khai điều trị nghiện CDTP bằng methadone với 161 cơ sở điều trị cho 29,278 người (26). Tính đến tháng 01 năm 2016, toàn quốc đã có 57/61 tỉnh thành có cơ sở điều trị methadone với 44,078 người đang điều trị, tương đương 54,39% chỉ tiêu Chính phủ đề ra, trong đó Lai Châu, Long An, Vĩnh 8 Long, Thừa Thiên Huế, Sóc Trăng và Đồng Tháp là các tỉnh đã thực hiện vượt mức kế hoạch (26).000 người đang điều trị methadone từ năm 2008, hiện nay chỉ còn khoảng 52.000 người đang được điều trị trong chương trình. Sau 10 năm triển khai dịch vụ điều trị Methadone đã chứng minh được những cho thấy sự thành công của liệu pháp điều trị và sự phù hợp với bối cảnh của Việt Nam (27, 28). Từ đầu năm 2020, đại dịch COVID-19 đã bùng phát tại Việt Nam với diễn biến phức tạp đã tác động tiêu cực rất lớn đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội và y tế (21), gây khó khăn trong công tác quản lý điều trị methadone cho người nghiện chất.
Đặc biệt trong đợt dịch thứ 4 (từ ngày 27/04/2021) – đợt dịch bùng phát mạnh mẽ tại các tỉnh thành phía Nam với số ca mắc và tử vong rất cao, tính đến ngày 04/10/2021, tổng số ca mắc tại Việt Nam trong đợt dịch thứ 4 là 811.109, TP,HCM là địa phương có số ca mắc cao nhất cả nước với 400.003 trường hợp (29).