Chương Ill: Một số kiến nghị nhằm hạn chế trình hình trục lợi BHXH tại BHXH huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La. Để hoàn thành chuyên dé này, em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Hải Đường đã đóng góp những ý kiến quý báu và hướng dẫn em thực hiện, tạo điều kiện cho em tiếp cận sâu hơn, toàn diện hơn về trục lợi trong lĩnh vực BHXH, nâng cao nhận thức, khả năng lý luận và phân tích vấn đề. SL A LL SE ARSE TAI AL RRS a SR SAY OE PTT BR ENT BCR PE TEE ES OSEAN SV thực hiện: Nguyễn Thúy An — CQ520014 Lớp KTBH 52B Chuyên đề thực tập 6 GVHD: TS. Nguyễn Thị Hải Đường CHUONG I: NHUNG VAN DE CHUNG VỀ BHXH VA TRUC LOI TRONG LINH VUC BHXH 1.
TONG QUAN VE BHXH, SU CAN THIET KHACH QUAN VÀ TÁC DUNG CUA BHXH 1. Khái quát về BHXH Với mục đích nhằm giảm thiểu tác động của các rủi ro mà người lao động thường phải đối mặt có thể làm cho tiền lương hằng tháng của họ bị gián đoạn hoặc mat đi cũng như làm phát sinh chi phí về chăm sóc y té, tim kiém viéc lam. anh hưởng tới thu nhập người lao động nói riêng và tới đời sống xã hội nói chung, BHXH đã ra đời với việc quy định trách nhiệm đóng góp của người sử dụng lao động kết hợp với dự phòng cá nhân có sự chia sẻ lẫn nhau dưới sự tổ chức, quản lý của nhà nước. Đây là biện pháp hữu hiệu để khắc phục hậu quả của các rủi ro đối với người lao động và ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong chính sách xã hội của các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, ở đâu có quyền lợi thì ở đó cũng dễ nảy sinh vi phạm và tội phạm, BHXH cũng là lĩnh vực không nằm ngoài quy luật này. BHXH theo Công ước 102 bao gồm 9 chế độ: trợ cấp ốm đau (1), thai sản (2), TNLĐ - BNN (3), hưu trí (4), tử tuất (5), thất nghiệp (6), y tế (7), trợ cấp gia đình (8) và trợ cấp tàn tật (9). Việt Nam hiện nay đang thực hiện 7 trong số 9 chế độ nói trên, đó là chế độ trợ cấp ốm đau (1), thai sản (2), TNLD - BNN (3), hưu trí (4), tử tuất (5), thất nghiệp (6) và y tế (7). Thông qua hệ thống các chế độ trợ cấp, BHXH bù đắp hoặc thay thế thu nhập cho người lao động và gia đình họ trước những sự kiện, những “rủi ro” mang tính xã hội làm cho người lao động bị giảm hoặc SRR SERS ——---nn RAT MR SS SNE ERRATA ESC RS RL AR STS ESAT (La BE PO TU ED SITIES IN SV thực hiện: Nguyễn Thúy An —- CQ520014 Lớp KTBH 52B Chuyên đề thực tập 7 GVHD: TS.
Nguyễn Thị Hải Đường mat thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mat khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng, góp phan dam bao an toàn xã hội. Khi người lao động bị mất thu nhập do không thể lao động được hoặc sức lao động không được sử dụng (trường hợp thất nghiệp), BHXH thực hiện trả trợ cấp BHXH thay cho phan thu nhập bị mat này. Khoản thu nhập thay thế này, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng của quỹ BHXH có thể bằng toàn bộ hoặc một phần thu nhập đã mat. Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội cu thé của nước mình, các quốc gia trên thế giới lựa chọn mô hình BHXH phù hợp, đó có thể là một trong 3 mô hình sau hoặc là mô hình có sự kết hợp của cả 3 mô hình này: -Mô hình BHXH toàn dan (tập trung vào chương trình bảo hiểm hưu trí): Mô hình này được thiết kế theo hướng trả cùng một khoản cho tất cả người già không phụ thuộc trước đó có đi làm hay không cũng như trước đó đã đóng bao nhiêu năm vào quỹ hưu trí.
Trong các nước lựa chọn mô hình này có một số nước như Nam Phi, Canada, Thụy Điển. -Mô hình chương trình hưu trí đóng hưởng với mức hưởng xác định: Mô hình này còn được gọi là mô hình quỹ tồn tích cộng đồng. Trong đó, nguồn quỹ được hình thành chủ yếu từ đóng góp của người lao động, người sử dung lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước. Việc chi trả chỉ được thực hiện đối với người lao động đã đóng BHXH và mức hưởng được xác định theo mức đóng bình quân của thời gian đã tham gia BHXH.
Loại mô hình này thường được quản lý bởi các cơ quan nhà nước và được đa số các quốc gia lựa chọn trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, mô hình này đang bộc lộ một số khiếm khuyết, trong đó có sự mất cân đối về nguồn chi trả. Nhiều quốc gia đang gặp khó khăn này như Đức, Pháp, Ý và ngay cả Mỹ cũng vậy. -Mô hình có mức đóng xác định: Đây là mô hình mà trong đó nguồn quỹ được hình thành do người lao động hoặc do chủ sử dụng lao động hoặc do người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng góp.
Mức hưởng của người lao động được xác định căn cứ vào số tiền đã đóng trước đó cũng như lãi suất từ hoạt động đầu tư số tiền đã đóng. Vì mỗi SV thực hiện: Nguyễn Thúy An - CQ520014 Lớp KTBH 52B Chuyên đề thực tập 8 GVHD: TS. Nguyễn Thị Hải Đường người có một tài khoản riêng nên mô hình này còn được gọi là mô hình tài khoản cá nhân. Day là mô hình dang được áp dung ở một sô nước Bac Mỹ như Mexico, Costa Rica.
Trong số các mô hình trên, mô hình mức đóng xác định được đánh giá là mô hình chiếm ưu thế do không gây áp lực cho việc tính toán cân đối quỹ BHXH, tuy nhiên nó lại làm mất đi tính chia sẻ trong cộng đồng - một yếu tố được cho là có tính đặc thù của bảo hiểm. Mô hình BHXH mà mỗi nước lựa chọn phụ thuộc vào mục tiêu chính sách của quốc gia và điều kiện cụ thể của nền kinh tế. Tuy nhiên, ngày nay với chiến lược toàn cầu hóa BHXH và đảm bảo xã hội cho tất cả mọi người, các nước đang từng bước cải cách hệ thống BHXH theo hướng xây dựng mô hình đa trụ cột trong sự lồng ghép các mô hình trên nhằm đảm bảo quyên thụ hưởng BHXH cho mọi thành viên trong xã hội. Hiện nay, khái niệm chung về BHXH ở bình diện quốc tế vẫn chưa được tất cả các quốc gia thống nhất sử dụng vì quan niệm về vấn đề này còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố liên quan đến nhận thức, tập quán lựa chọn, khả năng quản lý.
của từng quốc gia. Chính vì vậy, khái niệm chung của Tổ chức lao động quốc tế về an sinh xã hội trong công ước 102 cũng được sử dụng trong lĩnh vực BHXH. Theo đó, BHXH có thể hiểu một cách khái quát là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp công cộng, nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập do 6m dau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già hoặc chết cũng nhự nhăm đảm bảo các chăm sóc y tê và trợ cấp cho các gia đình đông con. Ở Việt Nam, thuật ngữ BHXH thường được sử dụng với nội hàm hẹp hơn, chỉ bao gồm những trường hợp bảo hiểm thu nhập cho người lao động.
Vì vậy, BHYT thường được tách ra với tên gọi riêng, không thuộc khái niệm BHXH theo nghĩa hẹp, mặc dù đó là hình thức bảo hiểm mang tính xã hội va phi lợi nhuận. Luật BHXH cũng không quy định các van dé về BHYT bởi đối tượng của BHYT là các chỉ phí về khám chữa bệnh và chăm sóc y tế, không phải là phần thu nhập của người lao động bi giảm hay mat đi một cách trực tiếp. Người tham gia BHYT không bị giới hạn TREN PR TA HME AD AG SIDE RCP RATE DRE PS SS PI ME 01837 Ef< 2V SE PEE I BN HL DSL STE STE AEGIS SV thực hiện: Nguyễn Thúy An — CQ520014 Lớp KTBH 52B Chuyên đề thực tập 9 GVHD: TS. Nguyễn Thị Hải Đường trong lực lượng lao động hay độ tuổi như các trường hợp BHXH theo nghĩa hẹp.
Tương tự như vậy, cũng có quan điểm cho rằng BHTN cũng không thuộc phạm trù của BHXH do ở trường hợp này, phạm vi bảo hiểm không chỉ nhằm đảm bảo một phần thu nhập bị mat do thất nghiép ma con có mục đích cung cấp các dịch vụ việc làm, đào tạo nghề nhằm đưa người thất nghiệp quay lại thị trường lao động. Theo quan điểm chính thống hiện nay ở Việt Nam được thể hiện trong Luật BHXH thì BHTN thuộc nội hàm của BHXH vì mục đích cơ bản của BHTN là nhằm bù đắp một phần thu nhập cho người lao động trong thời gian bị thất nghiệp. Như vậy, theo nghĩa hẹp và cũng là nghĩa thông dụng ở Việt Nam, BHXH được hiểu là sự đảm bảo bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động khi bị 6m dau, thai sản, TNLĐ - BNN, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết. trên cơ sở đóng góp và sử dụng một quỹ tài chính tập trung, nhằm đảm bảo ồn định đời sống cho họ và an toàn xã hội.
Hiện nay ở Việt Nam, Nhà nước thống nhất quản lý và giao cho cơ quan BHXH Việt Nam tổ chức thực hiện 7 chế độ BHXH là: Bảo hiểm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động — bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp và BHYT. Điều này cho thấy cần có một cách tiếp cận rộng hơn về BHXH, theo đó tất cả các hình thức bảo hiểm cho các rủi ro mang tính xã hội xảy ra đối với con người mà không mang tính lợi nhuận cần được đặt trong một tổng thể chung của lĩnh vực BHXH như ghi nhận trong Công ước 102 của Tổ chức Lao động quốc thế. Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu tổng thể của chuyên đề, BHXH được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả BHTN và BHYT. Mối quan hệ xuyên suốt trong hoạt động BHXH là mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên trong quan hệ BHXH.
Đó là bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH, cụ thể: Bên tham gia BHXH là bên có trách nhiệm đóng góp BHXH theo quy định của pháp luật BHXH. Bên tham gia BHXH gồm người lao động, —===———= =-+XxCPPỲẼỲÏẼÏEỲẼỲFEẼFEẼEẼFFễễễễ.Ô__ SV thực hiện: Nguyên Thúy An - CQ520014 Lớp KTBH 52B Chuyên đề thực tập 10 GVHD: TS. Nguyễn Thi Hải Đường người sử dụng lao động và Nhà nước tham gia trong một số trường hợp.