Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện và thực tiễn thực hiện" do tác giả Bùi Thị Anh thực hiện thuộc chuyên ngành Luật Lao động và An sinh xã hội, Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đỗ Ngân Bình và sự hỗ trợ của Trung tâm Truyền thông, Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Về bối cảnh thực tiễn, chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện là bộ phận trọng yếu trong hệ thống an sinh xã hội phi lợi nhuận của Đảng và Nhà nước, được Quốc hội khóa XI quy định trong Luật BHXH năm 2006 (thực thi từ ngày 01/01/2008) và tiếp tục hoàn thiện tại Luật BHXH số 58/2014/QH13. Chính sách ra đời nhằm mở rộng diện bao phủ an sinh cho người lao động tại khu vực kinh tế phi chính thức – nhóm đối tượng chiếm khoảng 70% lực lượng lao động xã hội. Sau 10 năm đầu triển khai, diện bao phủ BHXH tự nguyện phát triển chậm so với tiềm năng. Từ năm 2018, khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH và Chính phủ ban hành Nghị quyết số 102/NQ-CP giao chỉ tiêu cho các địa phương, số người tham gia đã tăng từ 277.000 người (năm 2018) lên gần 574.000 người (năm 2019, tăng 107,1%).

Tuy nhiên, tính đến hết quý 1/2023, trong tổng số hơn 33 triệu lao động phi chính thức trên toàn quốc, chỉ có khoảng 1,46 triệu người tham gia BHXH tự nguyện (chiếm khoảng 3%). Đến hết tháng 7/2023, số người tham gia đạt 1,45 triệu người (hoàn thành 79,7% kế hoạch giao), đồng thời xuất hiện xu hướng gia tăng số người dừng đóng. Những rào cản pháp lý cơ bản được xác định gồm: chính sách chỉ thiết kế 02 chế độ dài hạn (hưu trí, tử tuất), thiếu vắng các chế độ ngắn hạn; thời gian đóng tối thiểu để hưởng lương hưu kéo dài đến 20 năm; và mức đóng 22% còn cao so với thu nhập bấp bênh của lao động tự do.

Về mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục đích nghiên cứu: Làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về BHXH tự nguyện, đánh giá thực tiễn thi hành, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và tổ chức thực hiện nhằm hoàn thiện chính sách, thu hút lao động phi chính thức tham gia.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 3 nhiệm vụ):
    1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về BHXH tự nguyện và pháp luật điều chỉnh BHXH tự nguyện.
    2. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về BHXH tự nguyện tại Việt Nam và thực tiễn thực hiện (đối tượng, phương thức, mức đóng, các chế độ và quản lý quỹ).
    3. Xác định các yêu cầu cơ bản và đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật BHXH tự nguyện.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là hệ thống quy phạm pháp luật về BHXH tự nguyện cùng các dữ liệu thực tiễn thi hành. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các văn bản pháp luật hiện hành tại Việt Nam (trọng tâm là Luật BHXH 2014 và các văn bản hướng dẫn) kết hợp số liệu thống kê thực tế giai đoạn từ khi bắt đầu áp dụng chính sách năm 2008 đến tháng 7/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về an sinh xã hội, đặc biệt là quan điểm phát triển "BHXH toàn dân" tại Nghị quyết số 28-NQ/TW.

Về khung lý thuyết và pháp lý:

  • Tác giả vận dụng định nghĩa về BHXH của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và các tiêu chuẩn bảo đảm an sinh tối thiểu quy định tại Công ước số 102 năm 1952 của ILO về quy chuẩn tối thiểu về an sinh xã hội (yêu cầu lựa chọn ít nhất 3 trong 9 nhánh chế độ).
  • Khung phân tích pháp luật thực định dựa trên Bộ luật Lao động năm 1994, Bộ luật Lao động năm 2019, Luật BHXH năm 2006, Luật BHXH năm 2014, Nghị quyết số 93/2015/QH13, Nghị định số 134/2015/NĐ-CP, Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH và Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
  • Về mô hình quốc tế, khóa luận sử dụng khung đối chiếu giữa mô hình BHXH tự nguyện bổ sung và mô hình BHXH tự nguyện tồn tại độc lập song song với BHXH bắt buộc; đồng thời trích dẫn Báo cáo Tổng quan kinh nghiệm quốc tế về BHXH tháng 5/2023 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (tiêu biểu như kinh nghiệm bao phủ 75% dân số của Trung Quốc thông qua kết hợp bắt buộc và tự nguyện có trợ cấp ngân sách).

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp quy phạm pháp luật để mổ xẻ nội dung điều chỉnh của các văn bản quy phạm.
  • Phương pháp thống kê, mô tả và so sánh số liệu thực tiễn qua các năm.
  • Phương pháp kế thừa và đánh giá kết quả từ các công trình khoa học đi trước của các tác giả Phạm Ngọc Hà (2010), Nguyễn Sỹ Đức (2014), Võ Lan Anh (2015), Nguyễn Đức Long (2020), Đỗ Hùng Quân (2020), Trần Hoàng Hải và Lê Thị Thúy Hương (2011).
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp chính thức do Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện Luật BHXH năm 2014 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (tháng 5/2023), và số liệu từ Tổng cục Thống kê.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội tự nguyện và pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện

Chương này tập trung xác lập cơ sở khoa học pháp lý cho loại hình BHXH tự nguyện:

  • Khái niệm và đặc điểm: BHXH tự nguyện được xác định là loại hình BHXH do Nhà nước ban hành, người tham gia được tự nguyện lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp thu nhập để bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập khi giảm hoặc mất khả năng lao động. Khác với BHXH bắt buộc áp dụng cho quan hệ lao động chính thức có người sử dụng lao động cùng đóng góp, BHXH tự nguyện áp dụng cho lao động tự tạo việc làm, nông dân, thợ thủ công; mang tính linh hoạt cao về phương thức đóng và phụ thuộc vào ý chí tham gia của cá nhân.
  • Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật: Nhà nước can thiệp bằng pháp luật nhằm tạo cơ chế phân phối lại thu nhập, chia sẻ rủi ro xã hội, thiết lập hành lang an toàn tài chính lâu dài cho người dân khi về già, đồng thời huy động nguồn vốn nhàn rỗi đầu tư trở lại nền kinh tế. Dẫn chiếu báo cáo quốc tế tháng 5/2023 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tác giả chỉ ra diện bao phủ BHXH tương quan thuận với thu nhập bình quân đầu người; các quốc gia đang phát triển thành công đều phải kết hợp hài hòa giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện có sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước (như tỷ lệ bao phủ 75% tại Trung Quốc với 40% đến từ hình thức tự nguyện).
  • Lịch sử lập pháp tại Việt Nam: Phân tích tiến trình phát triển từ Điều lệ tạm thời theo Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961, Quyết định số 202/BCNLĐ ngày 15/11/1982 cho xã viên tiểu thủ công nghiệp, Bộ luật Lao động 1994, Luật BHXH 2006 (bắt đầu thực thi BHXH tự nguyện từ ngày 01/01/2008), Luật BHXH 2014 và bước ngoặt định hướng "BHXH toàn dân" tại Nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2018.

Chương 2: Pháp luật hiện hành về bảo hiểm xã hội tự nguyện và thực tiễn thực hiện

Chương 2 chiếm dung lượng trọng tâm, đối chiếu toàn diện giữa quy định pháp luật thực định và thực tế thi hành:

  • Đối tượng tham gia, phương thức và mức đóng:
    • Đối tượng: Luật BHXH 2014 mở rộng đối tượng là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, không thuộc diện BHXH bắt buộc. Bước tiến nổi bật là bãi bỏ giới hạn tuổi trần (trước đây khống chế trong độ tuổi lao động: nam 60, nữ 55), cho phép người hết tuổi lao động nhưng chưa đủ thời gian đóng được tiếp tục tham gia.
    • Phương thức đóng: Đa dạng với các hình thức đóng hằng tháng, 03 tháng, 06 tháng, 12 tháng một lần; đóng một lần cho nhiều năm về sau (tối đa 5 năm); và đóng một lần cho những năm còn thiếu không quá 10 năm (120 tháng) để đủ 20 năm hưởng lương hưu đối với người đã đủ tuổi nghỉ hưu.
    • Mức đóng và hỗ trợ: Mức đóng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia lựa chọn (tối thiểu bằng chuẩn hộ nghèo nông thôn, tối đa bằng 20 lần mức lương cơ sở). Từ ngày 01/01/2018, Nhà nước hỗ trợ tiền đóng tối đa 10 năm: 30% đối với hộ nghèo (46.200 đồng/tháng), 25% đối với hộ cận nghèo (38.500 đồng/tháng) và 10% đối với các đối tượng khác (15.400 đồng/tháng).
    • Thực tiễn phát triển đối tượng: Sau 6 năm thi hành Luật BHXH 2014, số người tham gia tăng từ 203.871 người (năm 2016) lên 1.449.800 người (năm 2021), tăng 7,25 lần, vượt chỉ tiêu đạt 1% lực lượng lao động tại Nghị quyết số 28-NQ/TW.
Năm Số người tham gia BHXH bắt buộc Số người tham gia BHXH tự nguyện Tỷ lệ BHXH tự nguyện/LLLD trong độ tuổi (%) Tổng số người tham gia BHXH Tỷ lệ tham gia BHXH/LLLD trong độ tuổi (%)
2016 12.851.833 203.871 0,43 13.055.704 27,7
2017 13.596.146 224.243 0,47 13.820.389 29,1
2018 14.455.069 277.190 0,57 14.732.259 30,4
2019 15.204.036 558.109 1,14 15.762.145 32,3
2020 15.050.944 1.125.236 2,31 16.176.180 33,5
2021 15.097.027 1.449.800 3,25 16.546.827 34,3

(Nguồn: BHXH Việt Nam, Tổng cục Thống kê)

  • Chế độ hưu trí và tử tuất:
    • Hưu trí: Điều kiện hưởng là đủ tuổi đời (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi theo Luật 2014) và đủ 20 năm đóng BHXH trở lên. Mức hưởng tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH tương ứng với số năm quy định (nữ 15 năm; nam từ năm 2022 là 20 năm), sau đó mỗi năm cộng 2%, tối đa 75%. Giai đoạn 2016 - 2021 có trên 54.000 người hưởng lương hưu hằng tháng (bình quân khoảng 9.000 người/năm). Tuy nhiên, yêu cầu đóng đủ 20 năm là quá dài, khiến số lượng người lựa chọn rút BHXH một lần vẫn ở mức cao.
    • Tử tuất: Trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở áp dụng cho người đóng từ đủ 60 tháng trở lên hoặc đang hưởng lương hưu. Trợ cấp tuất một lần cho thân nhân tính theo số năm đóng (1,5 tháng bình quân thu nhập cho năm trước 2014, 02 tháng từ năm 2014 trở đi). Giai đoạn 2016 - 2020 giải quyết chế độ tuất tháng cho 337 người và tuất một lần cho 2.486 người. Tác giả chỉ ra bất cập: người đóng dưới 60 tháng không được trợ cấp mai táng, số tiền tuất một lần nhận được thấp hơn tổng số tiền người lao động đã đóng vào quỹ.
  • Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện:
    • Quỹ vận hành độc lập về hạch toán thu - chi trong hệ thống Quỹ BHXH tập trung. Nguồn thu hình thành từ đóng góp của người tham gia và tiền sinh lời đầu tư; ngân sách nhà nước chưa hỗ trợ trực tiếp vào quỹ mà chỉ hỗ trợ người tham gia.
    • Về đầu tư tăng trưởng, quỹ chỉ được đầu tư vào các kênh rủi ro thấp: mua trái phiếu Chính phủ, gửi tiền tại các ngân hàng thương mại uy tín, cho ngân sách nhà nước vay. Nguồn thu của quỹ tăng từ 10,8 tỷ đồng (năm 2008) lên 3.074,1 tỷ đồng (năm 2020), duy trì trạng thái cân đối thu - chi an toàn.

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam

Dựa trên phân tích thực trạng, tác giả xác định 3 yêu cầu hoàn thiện: phù hợp đường lối của Đảng (Nghị quyết 28-NQ/TW); bảo đảm công bằng, đóng - hưởng; và mở rộng diện bao phủ. Các giải pháp đề xuất bao gồm:

  • Kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật:
    1. Nâng mức hỗ trợ tiền đóng từ ngân sách Nhà nước: Đề xuất tăng mức hỗ trợ từ 30% lên 50% đối với hộ nghèo; từ 25% lên 30% đối với hộ cận nghèo; và từ 10% lên 20% đối với các đối tượng khác.
    2. Bổ sung chế độ ngắn hạn: Bổ sung các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp vào chính sách BHXH tự nguyện nhằm gia tăng quyền lợi trực tiếp, trước mắt cho người lao động.
    3. Giảm điều kiện thời gian đóng hưởng lương hưu: Giảm thời gian đóng tối thiểu từ 20 năm xuống 15 năm, đồng thời nghiên cứu công thức tính lương hưu phù hợp cho lao động nam đóng từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm.
    4. Hoàn thiện quy định về BHXH một lần và trợ cấp hưu trí: Nghiên cứu cơ chế cho người đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ năm đóng và không hưởng BHXH một lần được nhận trợ cấp hằng tháng.
    5. Điều chỉnh chế độ tử tuất: Bỏ căn cứ xác định trợ cấp mai táng theo mức lương cơ sở (phù hợp với lộ trình cải cách tiền lương tại Nghị quyết số 27-NQ/TW); quy định trường hợp đóng dưới 60 tháng thì trợ cấp tuất một lần ít nhất phải bằng số tiền thực tế đã đóng.
    6. Kỹ thuật lập pháp: Tách bạch thuật ngữ "BHXH tự nguyện" khỏi thuật ngữ chung "BHXH"; bổ sung điều khoản riêng về hình thức chi trả; bố trí quy định hồ sơ, thủ tục giải quyết chế độ hưu trí và tử tuất ngay sau các điều khoản nội dung tương ứng thay vì gộp chung trong chương thủ tục hành chính.
  • Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi:
    • Đổi mới, đa dạng hóa công tác tuyên truyền, khắc phục tình trạng truyền thông cục bộ ở đô thị; bố trí kinh phí tuyên truyền thỏa đáng từ Quỹ BHXH cho các cấp địa phương.
    • Củng cố hệ thống đại lý thu đến tận cấp xã, phường; ứng dụng công nghệ thông tin, hỗ trợ giao dịch điện tử, đa dạng hóa kênh nộp tiền qua tài khoản ngân hàng để tạo thuận lợi cho người lao động.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã phản ánh trung thực bức tranh pháp lý và số liệu thi hành BHXH tự nguyện qua 15 năm (2008 - 2023):

  • Xác lập hệ số liệu thực chứng: Quy mô người tham gia tăng từ hơn 6.000 người (năm 2008) lên 1,487 triệu người (ước tính 30/6/2023) và đạt 1,45 triệu người vào tháng 7/2023. Tốc độ tăng trưởng bình quân số người tham gia giai đoạn 2016 - 2022 đạt 38,03%/năm; thu quỹ đạt 3.074,1 tỷ đồng vào năm 2020.
  • Phát hiện 4 nút thắt pháp lý cản trở mở rộng đối tượng:
    1. Thời gian đóng 20 năm quá dài so với tính chất công việc không ổn định của lao động tự do.
    2. Thiết kế chế độ nghèo nàn (chỉ có hưu trí và tử tuất), vắng bóng quyền lợi ngắn hạn (ốm đau, thai sản).
    3. Mức hỗ trợ ngân sách hiện tại (15.400 - 46.200 đồng/tháng) chưa đủ sức khuyến khích tham gia.
    4. Quy định trợ cấp mai táng gắn với mức lương cơ sở không còn tương thích khi triển khai Nghị quyết 27-NQ/TW, và quy định thời gian đóng dưới 60 tháng gây thiệt thòi cho thân nhân người tham gia.
Nội dung Quy định hiện hành (Nghị định 134/2015/NĐ-CP) Đề xuất sửa đổi của tác giả
Hỗ trợ hộ nghèo 30% chuẩn nghèo nông thôn (46.200 đ/tháng) Nâng lên 50%
Hỗ trợ hộ cận nghèo 25% chuẩn nghèo nông thôn (38.500 đ/tháng) Nâng lên 30%
Hỗ trợ đối tượng khác 10% chuẩn nghèo nông thôn (15.400 đ/tháng) Nâng lên 20%
Thời gian đóng hưởng hưu Tối thiểu 20 năm Giảm xuống 15 năm
Chế độ bảo hiểm 02 chế độ dài hạn (Hưu trí, Tử tuất) Bổ sung chế độ ngắn hạn (Ốm đau, Thai sản, TNLĐ-BNN)
Trợ cấp mai táng 10 lần mức lương cơ sở Sửa đổi không phụ thuộc vào mức lương cơ sở

Về đóng góp so với các công trình đi trước, tác giả chỉ rõ các nghiên cứu trước đây (như các đề tài địa phương tại Quảng Nam, Bình Định, Quảng Bình hay các luận văn của Nguyễn Sỹ Đức, Võ Lan Anh) chủ yếu dừng lại ở góc độ lý luận chung hoặc khảo sát phạm vi hẹp. Khóa luận này là công trình chuyên khảo luật học đi sâu phân tích toàn diện các chế định pháp luật thực định dưới góc nhìn cải cách hệ thống an sinh xã hội hậu Nghị quyết 28-NQ/TW, gắn trực tiếp với dữ liệu thi hành Luật BHXH 2014 trên phạm vi toàn quốc đến năm 2023.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, tác giả tự nhận định do giới hạn năng lực và điều kiện nghiên cứu, công trình khó tránh khỏi thiếu sót. Khóa luận tập trung chủ yếu vào khía cạnh pháp luật thực định và các báo cáo hành chính sẵn có, chưa tiến hành điều tra xã hội học diện rộng về mức độ sẵn sàng chi trả của từng nhóm lao động phi chính thức. Ngoài ra, việc đánh giá cân đối thu - chi quỹ BHXH tự nguyện chưa phản ánh được áp lực chi trả dài hạn do chính sách mới triển khai từ năm 2008 nên số người hưởng lương hưu hiện tại phần lớn là đối tượng chuyển đổi từ BHXH bắt buộc sang.

Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản gợi mở nhu cầu tiếp tục nghiên cứu sâu:

  • Đánh giá tác động lập pháp khi cụ thể hóa việc giảm thời gian đóng hưởng lương hưu xuống 15 năm trong Luật BHXH sửa đổi.
  • Xây dựng mô hình tính toán tài chính dài hạn nhằm bảo đảm an toàn quỹ khi bổ sung các gói chế độ ngắn hạn có sự hỗ trợ một phần từ ngân sách nhà nước.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo học thuật có giá trị cho:

  • Người học và nghiên cứu chuyên ngành Luật: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Lao động, An sinh xã hội, Luật Kinh tế và Quản lý công có thể tham khảo phương pháp rà soát văn bản quy phạm pháp luật kết hợp phân tích số liệu thứ cấp từ cơ quan quản lý nhà nước.
  • Nhà lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn và các đề xuất điều chỉnh cụ thể cho quá trình sửa đổi Luật BHXH, nhất là các số liệu phản ánh tính bất cập của ngưỡng đóng 20 năm và định mức hỗ trợ tiền đóng hiện tại.
  • Cán bộ quản lý và truyền thông ngành BHXH: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về những rào cản nhận thức và rào cản tài chính của lao động tự do, giúp xây dựng phương án truyền thông và mở rộng mạng lưới đại lý thu phù hợp với địa bàn cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Luật BHXH năm 2014 có bước cải tiến nổi bật nào về đối tượng tham gia BHXH tự nguyện so với Luật BHXH năm 2006?
Luật BHXH 2014 đã bãi bỏ quy định khống chế tuổi trần (trước đây giới hạn trong độ tuổi lao động: nam dưới 60, nữ dưới 55). Quy định mới áp dụng cho mọi công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc diện BHXH bắt buộc, giúp những người đã hết tuổi lao động nhưng chưa đủ năm đóng vẫn có cơ hội tham gia tiếp để hưởng lương hưu.

2. Chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH tự nguyện từ ngân sách Nhà nước theo Nghị định số 134/2015/NĐ-CP được quy định như thế nào và tác giả đề xuất thay đổi ra sao?
Hiện hành, Nhà nước hỗ trợ theo tỷ lệ phần trăm trên mức đóng tính theo chuẩn hộ nghèo nông thôn trong thời gian tối đa 10 năm: 30% cho hộ nghèo (46.200 đ/tháng), 25% cho hộ cận nghèo (38.500 đ/tháng) và 10% cho đối tượng khác (15.400 đ/tháng). Tác giả đề xuất nâng mức hỗ trợ lần lượt lên thành 50% (hộ nghèo), 30% (hộ cận nghèo) và 20% (đối tượng khác).

3. Vì sao tác giả cho rằng quy định về trợ cấp mai táng trong chế độ tử tuất của BHXH tự nguyện hiện nay cần phải được rà soát, điều chỉnh?
Có hai nguyên nhân: thứ nhất, mức trợ cấp mai táng hiện được tính bằng 10 lần mức lương cơ sở, căn cứ này sẽ không còn phù hợp khi thực hiện bãi bỏ mức lương cơ sở theo chủ trương cải cách tiền lương tại Nghị quyết số 27-NQ/TW; thứ hai, quy định người tham gia đóng dưới 60 tháng không được hưởng mai táng phí dẫn đến thực tế số tiền tuất một lần thân nhân nhận được thấp hơn tổng số tiền người lao động đã đóng vào quỹ.

4. Dữ liệu thực tiễn trong khóa luận cho thấy kết quả phát triển người tham gia BHXH tự nguyện giai đoạn 2016 - 2021 biến động ra sao?
Số người tham gia BHXH tự nguyện tăng mạnh từ 203.871 người (năm 2016) lên 1.449.800 người (năm 2021), tương ứng mức tăng 7,25 lần. Tỷ lệ bao phủ trong lực lượng lao động trong độ tuổi tăng từ 0,43% lên 3,25%, hoàn thành vượt chỉ tiêu 1% mà Nghị quyết số 28-NQ/TW đặt ra cho năm 2021.

5. Khóa luận đề xuất những giải pháp lập pháp nào để nâng cao tính hấp dẫn của chế độ hưu trí BHXH tự nguyện?
Tác giả đề xuất giảm thời gian đóng tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm kèm công thức tính lương hưu phù hợp cho lao động nam; bổ sung các chế độ ngắn hạn (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp); và bổ sung phương án cho phép người đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ năm đóng được hưởng trợ cấp hằng tháng nếu không nhận BHXH một lần.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Bùi Thị Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng thi hành pháp luật BHXH tự nguyện tại Việt Nam từ năm 2008 đến tháng 7/2023. Công trình làm rõ thành tựu mở rộng đối tượng vượt chỉ tiêu Nghị quyết số 28-NQ/TW giai đoạn 2016 - 2021, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý cốt lõi về thời gian đóng, chế độ ngắn hạn và mức hỗ trợ tài chính. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện Luật BHXH có giá trị tham khảo thực tiễn đối với công tác lập pháp và an sinh xã hội.